Điều 89 Luật Đất đai 2024: Cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất

Phân tích Điều 89 Luật Đất đai 2024 về điều kiện, trình tự cưỡng chế thu hồi đất, thẩm quyền và trách nhiệm các bên liên quan.

Điều 89. Cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất

1. Việc cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:

a) Tiến hành công khai, minh bạch, dân chủ, khách quan, bảo đảm trật tự, an toàn, đúng quy định của pháp luật;

b) Thời điểm bắt đầu tiến hành cưỡng chế được thực hiện trong giờ hành chính. Không thực hiện cưỡng chế trong thời gian từ 10 giờ đêm ngày hôm trước đến 06 giờ sáng ngày hôm sau; các ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật, ngày lễ theo truyền thống của đồng bào dân tộc; trong thời gian 15 ngày trước và sau thời gian nghỉ Tết Âm lịch và các trường hợp đặc biệt khác làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội, phong tục, tập quán tại địa phương;

c) Việc cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất được thực hiện với người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất và đối tượng khác có liên quan đến khu đất thu hồi (nếu có).

2. Việc cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Quyết định thu hồi đất đã có hiệu lực thi hành mà người có đất thu hồi không chấp hành quyết định thu hồi đất sau khi Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất thu hồi và cơ quan có chức năng quản lý đất đai hoặc đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã vận động, thuyết phục;

b) Quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất đã được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi;

c) Quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất đã có hiệu lực thi hành;

d) Người bị cưỡng chế đã nhận được quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất có hiệu lực thi hành.

Trường hợp người bị cưỡng chế từ chối nhận quyết định cưỡng chế hoặc vắng mặt khi giao quyết định cưỡng chế thì Ủy ban nhân dân cấp xã lập biên bản.

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất và tổ chức thực hiện quyết định cưỡng chế.

Quyết định cưỡng chế phải được thi hành trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày người bị cưỡng chế nhận được quyết định cưỡng chế hoặc kể từ ngày Ủy ban nhân dân cấp xã lập biên bản về việc người bị cưỡng chế vắng mặt hoặc người bị cưỡng chế từ chối nhận quyết định cưỡng chế, trừ trường hợp quyết định cưỡng chế quy định thời gian dài hơn.

4. Việc thực hiện quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất thực hiện theo trình tự, thủ tục sau đây:

a) Trước khi tiến hành cưỡng chế, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thành lập Ban cưỡng chế thu hồi đất, bao gồm: Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện là trưởng ban; đại diện các cơ quan có chức năng thanh tra, tư pháp, tài nguyên và môi trường, xây dựng; đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; đại diện lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi là thành viên và các thành viên khác do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định;

b) Ban cưỡng chế thu hồi đất vận động, thuyết phục, đối thoại với người bị cưỡng chế; nếu người bị cưỡng chế chấp hành thì Ban cưỡng chế thu hồi đất lập biên bản ghi nhận sự chấp hành. Việc bàn giao đất được thực hiện chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày lập biên bản.

Trường hợp người bị cưỡng chế không chấp hành quyết định cưỡng chế thì Ban cưỡng chế thu hồi đất tổ chức thực hiện cưỡng chế;

c) Ban cưỡng chế thu hồi đất có quyền buộc người bị cưỡng chế và những người có liên quan phải ra khỏi khu đất cưỡng chế, tự chuyển tài sản ra khỏi khu đất cưỡng chế; nếu không thực hiện thì Ban cưỡng chế thu hồi đất có trách nhiệm di chuyển người bị cưỡng chế và người có liên quan cùng tài sản ra khỏi khu đất cưỡng chế.

Trường hợp người bị cưỡng chế từ chối nhận tài sản thì Ban cưỡng chế thu hồi đất phải lập biên bản, tổ chức thực hiện bảo quản tài sản theo quy định của pháp luật và thông báo cho người có tài sản nhận lại tài sản;

d) Ban cưỡng chế thu hồi đất mời đại diện Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam cấp huyện tham gia giám sát việc cưỡng chế thu hồi đất.

5. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất được quy định như sau:

a) Ủy ban nhân dân cấp huyện chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện việc cưỡng chế, giải quyết khiếu nại liên quan đến việc cưỡng chế theo quy định của pháp luật về khiếu nại; bảo đảm điều kiện, phương tiện cần thiết phục vụ cho việc cưỡng chế; bố trí kinh phí cưỡng chế thu hồi đất;

b) Ban cưỡng chế thu hồi đất có trách nhiệm chủ trì lập phương án cưỡng chế và dự toán kinh phí cho hoạt động cưỡng chế trình Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt; bàn giao đất cho đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

Trường hợp trên đất thu hồi có tài sản thì việc bảo quản tài sản thực hiện theo quy định của Chính phủ; chi phí bảo quản tài sản đó do chủ sở hữu chịu trách nhiệm thanh toán;

c) Lực lượng công an có trách nhiệm bảo vệ trật tự, an toàn trong quá trình tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất;

d) Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, đơn vị có liên quan tổ chức thực hiện việc giao, niêm yết công khai quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất; tham gia thực hiện cưỡng chế; phối hợp với Ban cưỡng chế thu hồi đất thực hiện niêm phong, di chuyển tài sản của người bị cưỡng chế thu hồi đất;

đ) Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan chịu trách nhiệm phối hợp với Ban cưỡng chế thu hồi đất thực hiện việc cưỡng chế thu hồi đất khi Ban cưỡng chế thu hồi đất có yêu cầu.

6. Kinh phí cưỡng chế thu hồi đất do ngân sách nhà nước bảo đảm, được lập thành một khoản trong kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

7. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Mục tiêu điều chỉnh và định hướng chung

Điều 89 không khuyến khích cưỡng chế mà thiết lập “hàng rào thủ tục” để chỉ sử dụng biện pháp này khi đã vận động, thuyết phục nhưng không đạt kết quả. Cách thiết kế quy định thể hiện yêu cầu tôn trọng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất và bảo đảm an ninh, trật tự, đồng thời vẫn bảo vệ lợi ích công cộng, tiến độ dự án. Đây là cơ sở để cơ quan nhà nước vừa có công cụ thi hành quyết định thu hồi đất, vừa hạn chế nguy cơ xung đột, khiếu kiện kéo dài.

Các nguyên tắc cưỡng chế cần nắm rõ

Khoản 1 Điều 89 nhấn mạnh các nguyên tắc công khai, minh bạch, dân chủ, khách quan, bảo đảm trật tự, an toàn và đúng pháp luật. Trong thực tiễn, đây là tiêu chí để kiểm soát tính hợp pháp của một cuộc cưỡng chế thu hồi đất: nếu thiếu công khai, thiếu đối thoại, tổ chức cưỡng chế trong bối cảnh dễ gây kích động hoặc không bảo đảm an toàn thì rất dễ bị coi là trái luật. Quy định về khung thời gian không cưỡng chế (ban đêm, ngày nghỉ, dịp Tết, sự kiện đặc biệt tại địa phương) nhằm phòng ngừa ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống cộng đồng và phong tục tập quán.

Điều kiện “kích hoạt” cưỡng chế – điểm then chốt

Khoản 2 Điều 89 là “trung tâm” của điều luật, quy định các điều kiện phải đồng thời đáp ứng trước khi cưỡng chế. Trước hết, quyết định thu hồi đất đã có hiệu lực nhưng người có đất không chấp hành, dù đã được Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và cơ quan đất đai (hoặc đơn vị bồi thường) vận động, thuyết phục. Tiếp đó, quyết định cưỡng chế phải được niêm yết công khai đúng nơi, đã có hiệu lực và người bị cưỡng chế đã nhận hoặc được lập biên bản về việc từ chối nhận/vắng mặt. Chỉ cần thiếu một trong các điều kiện này, việc cưỡng chế có nguy cơ bị xác định là trái pháp luật trong quá trình giải quyết khiếu nại, tố tụng hành chính.

Thẩm quyền, thời hạn và tổ chức thực hiện

Theo khoản 3, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện là người có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện quyết định cưỡng chế, không giao cho cấp xã. Thời hạn thi hành quyết định cưỡng chế là 10 ngày kể từ ngày người bị cưỡng chế nhận quyết định hoặc ngày lập biên bản về việc vắng mặt/từ chối nhận, trừ trường hợp quyết định quy định thời gian dài hơn. Đây là mốc thời gian quan trọng để kiểm soát tính kịp thời, tránh kéo dài, đồng thời là căn cứ tính thời hiệu khiếu nại, khởi kiện liên quan đến hoạt động cưỡng chế.

Cơ chế Ban cưỡng chế và trình tự thực hiện

Thành lập và vai trò Ban cưỡng chế

Trước khi cưỡng chế, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện phải quyết định thành lập Ban cưỡng chế thu hồi đất, gồm đại diện nhiều cơ quan: thanh tra, tư pháp, tài nguyên và môi trường, xây dựng, đơn vị bồi thường, lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp xã và các thành phần khác. Cấu trúc đa ngành nhằm bảo đảm quyết định chuyên môn, pháp lý, kỹ thuật và quản lý đều được xem xét, hạn chế sai sót trong quá trình cưỡng chế.

Ưu tiên đối thoại, rồi mới cưỡng chế

Khoản 4 yêu cầu Ban cưỡng chế tiếp tục vận động, thuyết phục, đối thoại với người bị cưỡng chế ngay trước khi tiến hành biện pháp cưỡng chế. Nếu người bị cưỡng chế đồng ý chấp hành, Ban cưỡng chế lập biên bản ghi nhận và bàn giao đất trong thời hạn tối đa 30 ngày, không tổ chức cưỡng chế về mặt thực tế nữa. Chỉ khi đối thoại không đạt kết quả, Ban cưỡng chế mới tổ chức cưỡng chế, buộc người bị cưỡng chế rời khỏi khu đất và di chuyển tài sản; việc lập biên bản, bảo quản tài sản, thông báo cho chủ sở hữu là yêu cầu bắt buộc để tránh tranh chấp về mất mát, hư hỏng tài sản.

Phân định trách nhiệm giữa các chủ thể

Khoản 5 chi tiết hóa trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức: Ủy ban nhân dân cấp huyện tổ chức cưỡng chế, bảo đảm kinh phí, điều kiện; Ban cưỡng chế lập phương án, dự toán, tổ chức bàn giao đất và bảo quản tài sản trên đất theo quy định của Chính phủ; lực lượng công an bảo đảm an ninh, trật tự; Ủy ban nhân dân cấp xã phối hợp niêm yết, giao quyết định, tham gia cưỡng chế và di chuyển tài sản. Quy định này giúp xác định rõ chủ thể chịu trách nhiệm nếu có vi phạm, đồng thời làm căn cứ xem xét bồi thường thiệt hại và xử lý kỷ luật, trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nếu cưỡng chế trái luật.

Những nhầm lẫn thường gặp trong thực tế

Một là, nhiều người cho rằng cơ quan nhà nước có thể cưỡng chế ngay khi có quyết định thu hồi đất, bỏ qua giai đoạn vận động, đối thoại. Điều 89 cho thấy đây là nhận định sai, vì vận động, thuyết phục là điều kiện bắt buộc trước khi cưỡng chế. Hai là, không ít trường hợp cho rằng nếu người bị cưỡng chế không nhận quyết định cưỡng chế thì không thể cưỡng chế; trên thực tế, việc từ chối nhận hoặc vắng mặt chỉ được ghi nhận bằng biên bản của Ủy ban nhân dân cấp xã, và cưỡng chế vẫn được thực hiện nếu các điều kiện khác đã đủ. Ba là, có xu hướng nhầm lẫn giữa quyền cưỡng chế của cấp huyện với cấp xã; Điều 89 khẳng định thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế thuộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã chỉ phối hợp.

Lưu ý khi áp dụng vào tình huống cụ thể

Khi áp dụng Điều 89, cần kiểm tra lần lượt: tính hợp pháp và hiệu lực của quyết định thu hồi đất; hồ sơ, biên bản vận động, thuyết phục; việc niêm yết, giao quyết định cưỡng chế; thành phần, quyết định thành lập Ban cưỡng chế; phương án cưỡng chế, bảo quản tài sản; mốc thời gian thực hiện. Đối với người sử dụng đất, việc hiểu rõ các điều kiện và trình tự này giúp nhận diện dấu hiệu cưỡng chế trái luật để sử dụng đúng quyền khiếu nại, khởi kiện. Đối với cơ quan nhà nước, việc tuân thủ chặt chẽ Điều 89 là yêu cầu bắt buộc để giảm rủi ro tranh chấp, khiếu kiện và trách nhiệm bồi thường do cưỡng chế không đúng pháp luật.

Khi nào cơ quan nhà nước được quyền cưỡng chế thu hồi đất theo Điều 89?
Khi quyết định thu hồi đất có hiệu lực, đã vận động thuyết phục nhưng người có đất không chấp hành, và đã ban hành, công khai, giao quyết định cưỡng chế hợp lệ.
Người dân từ chối nhận quyết định cưỡng chế thì có bị cưỡng chế không?
Có. Ủy ban nhân dân cấp xã lập biên bản về việc từ chối nhận hoặc vắng mặt; đây được xem là đã giao quyết định hợp lệ và cưỡng chế vẫn được tiến hành.
Ai có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế thu hồi đất?
Chỉ Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện quyết định cưỡng chế thu hồi đất theo Điều 89.
Cưỡng chế thu hồi đất có được thực hiện vào ban đêm hoặc ngày lễ không?
Không. Điều 89 cấm cưỡng chế từ 22h đến 6h, các ngày nghỉ, ngày lễ, thời gian 15 ngày trước và sau Tết Âm lịch và các dịp đặc biệt ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự xã hội.
Tài sản trên đất bị cưỡng chế được xử lý như thế nào?
Ban cưỡng chế yêu cầu chủ tài sản tự di chuyển, nếu không sẽ tổ chức di chuyển và bảo quản theo quy định; chi phí bảo quản do chủ sở hữu thanh toán.
Mục lục văn bản