Điều 84 Luật Đất đai 2024: Trường hợp thu hồi đất liên quan đến quốc phòng, an ninh

Bình luận pháp lý Điều 84 Luật Đất đai 2024 về thu hồi đất quốc phòng, an ninh, cơ chế phê duyệt và cập nhật quy hoạch.

Điều 84. Trường hợp thu hồi đất liên quan đến quốc phòng, an ninh

1. Trường hợp thu hồi đất quốc phòng, an ninh đã có trong quy hoạch sử dụng đất quốc phòng, quy hoạch sử dụng đất an ninh là đất để chuyển giao cho địa phương thực hiện dự án phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng quy định tại Điều 79 của Luật này thì phải có sự thống nhất của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đối với đất quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an đối với đất an ninh. Trường hợp không thống nhất ý kiến, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định.

2. Trường hợp phải thu hồi đất để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh nhưng chưa có trong quy hoạch sử dụng đất quốc phòng, quy hoạch sử dụng đất an ninh thì Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an lấy ý kiến của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có đất để báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, chấp thuận việc thu hồi đất và phải cập nhật khi rà soát, điều chỉnh quy hoạch theo quy định của pháp luật sau khi được thực hiện.

3. Trường hợp phải thu hồi đất quốc phòng, an ninh, tài sản gắn liền với đất để chuyển giao cho địa phương thực hiện dự án phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng nhưng diện tích đất dự kiến thu hồi chưa được xác định trong quy hoạch sử dụng đất quốc phòng, quy hoạch sử dụng đất an ninh là đất chuyển giao cho địa phương thì thực hiện theo quy định sau đây:

a) Dự án thuộc thẩm quyền Quốc hội quyết định, chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư công, pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư và pháp luật về đầu tư thì sau khi Quốc hội quyết định, phê duyệt chủ trương đầu tư, Thủ tướng Chính phủ xem xét, chấp thuận việc thu hồi đất quốc phòng, an ninh, tài sản gắn liền với đất để thực hiện dự án;

b) Dự án thuộc thẩm quyền Thủ tướng Chính phủ quyết định, chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư công, pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư và pháp luật về đầu tư thì Thủ tướng Chính phủ xem xét, chấp thuận việc thu hồi đất quốc phòng, an ninh, tài sản gắn liền với đất để thực hiện dự án cùng với việc xem xét quyết định, phê duyệt, chấp thuận chủ trương đầu tư;

c) Dự án đầu tư công, dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư không thuộc trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản này thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phối hợp với Bộ Quốc phòng đối với đất quốc phòng, với Bộ Công an đối với đất an ninh báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, chấp thuận việc thu hồi đất quốc phòng, an ninh, tài sản gắn liền với đất để thực hiện dự án trước khi quyết định đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư công và pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư;

d) Diện tích đất thuộc các dự án quy định tại các điểm a, b và c khoản này sau khi thu hồi phải được cập nhật khi rà soát, điều chỉnh quy hoạch theo quy định pháp luật.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

1. Mục tiêu điều chỉnh và quan điểm chính

Điều 84 nhằm kiểm soát chặt chẽ việc thu hồi đất quốc phòng, an ninh, tránh việc chuyển đổi mục đích sử dụng tùy tiện, ảnh hưởng đến an ninh, quốc phòng. Cơ chế phê duyệt nhiều tầng (Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Thủ tướng, Quốc hội) phản ánh quan điểm: mọi dịch chuyển đất quốc phòng, an ninh sang dự án kinh tế – xã hội phải gắn với lợi ích quốc gia, công cộng và đặt dưới thẩm quyền trung ương. Đồng thời, điều luật buộc cập nhật quy hoạch sau mỗi lần thu hồi, bảo đảm sự thống nhất giữa thực tiễn sử dụng đất và công cụ quy hoạch.

2. Các trường hợp thu hồi trọng yếu cần phân biệt

2.1. Thu hồi đất quốc phòng, an ninh đã nằm trong quy hoạch để chuyển giao cho địa phương

Khoản 1 Điều 84 điều chỉnh trường hợp đất quốc phòng, an ninh đã được xác định trong quy hoạch sử dụng đất là đất sẽ chuyển giao cho địa phương để thực hiện dự án phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng theo Điều 79 Luật Đất đai 2024. Điểm mấu chốt: phải có sự thống nhất bằng ý kiến của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (đối với đất quốc phòng) hoặc Bộ trưởng Bộ Công an (đối với đất an ninh) trước khi thu hồi. Nếu không thống nhất, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh không tự quyết mà phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định, tránh xung đột giữa nhu cầu địa phương và yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh.

2.2. Thu hồi đất phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh chưa có trong quy hoạch

Khoản 2 Điều 84 xử lý tình huống ngược lại: phải thu hồi đất để phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh nhưng diện tích đất đó chưa được đưa vào quy hoạch sử dụng đất quốc phòng, an ninh. Trong trường hợp này, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an có nghĩa vụ lấy ý kiến Bộ Tài nguyên và Môi trường và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có đất, sau đó báo cáo Thủ tướng chấp thuận việc thu hồi. Sau khi thu hồi và thực hiện, diện tích đất này phải được cập nhật khi rà soát, điều chỉnh quy hoạch. Trọng tâm là: không dùng nhiệm vụ quốc phòng, an ninh để hợp thức hóa việc thu hồi đất ngoài quy hoạch, mà phải có sự chấp thuận của Thủ tướng và cập nhật quy hoạch kịp thời.

2.3. Thu hồi đất quốc phòng, an ninh chưa xác định dự kiến trong quy hoạch để chuyển giao cho địa phương

Khoản 3 Điều 84 điều chỉnh trường hợp tinh tế hơn: đất quốc phòng, an ninh và tài sản gắn liền với đất phải thu hồi để chuyển giao cho địa phương làm dự án kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng, nhưng diện tích thu hồi chưa được xác định trong quy hoạch

Ở điểm a, với dự án thuộc thẩm quyền Quốc hội về chủ trương đầu tư, sau khi Quốc hội quyết định, Thủ tướng xem xét, chấp thuận việc thu hồi đất quốc phòng, an ninh và tài sản gắn liền với đất để thực hiện dự án. Ở điểm b, với dự án thuộc thẩm quyền Thủ tướng về chủ trương đầu tư, Thủ tướng đồng thời xem xét, chấp thuận việc thu hồi đất khi quyết định, phê duyệt hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư, bảo đảm đồng bộ quyết định đầu tư và quyết định sử dụng đất quốc phòng, an ninh.

Điểm c điều chỉnh các dự án đầu tư công, PPP không thuộc hai nhóm trên, khi đó Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải phối hợp với Bộ Quốc phòng hoặc Bộ Công an, báo cáo Thủ tướng xem xét, chấp thuận việc thu hồi đất quốc phòng, an ninh, tài sản gắn liền với đất trước khi quyết định đầu tư. Như vậy, không thể quyết định dự án rồi mới đi hợp thức hóa thu hồi đất quốc phòng, an ninh. Điểm d khẳng định yêu cầu bắt buộc: mọi diện tích đất sau khi thu hồi theo các trường hợp này phải được cập nhật khi rà soát, điều chỉnh quy hoạch theo pháp luật, tránh tình trạng sử dụng đất thực tế tách rời quy hoạch.

3. Điều kiện kích hoạt và cấu trúc áp dụng Điều 84

Để Điều 84 được áp dụng, cần nhận diện một số yếu tố cấu thành: (i) đối tượng đất là đất quốc phòng, an ninh hoặc tài sản gắn liền với đất đó; (ii) mục đích thu hồi gắn với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc chuyển giao cho địa phương thực hiện dự án phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; (iii) tình trạng quy hoạch: đất đã, chưa hoặc chưa xác định trong quy hoạch là đất chuyển giao; (iv) thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư dự án liên quan. Từ các yếu tố này, người áp dụng pháp luật phải đối chiếu với từng khoản, từng điểm của Điều 84 để xác định đúng quy trình, thẩm quyền chấp thuận thu hồi.

Điều 84 không phải là căn cứ duy nhất để thu hồi đất; nó hoạt động song song với các căn cứ thu hồi tại Điều 79 Luật Đất đai 2024 và các quy định khác về quốc phòng, an ninh, đầu tư công, PPP. Khi xử lý tình huống, cần kết hợp các điều khoản có liên quan để bảo đảm cả tính hợp pháp (đúng căn cứ, đúng thẩm quyền) và tính hợp lý (bảo vệ lợi ích quốc gia, công cộng, quyền lợi của các chủ thể chịu tác động).

4. Những nhầm lẫn thường gặp và lưu ý thực tiễn

Một nhầm lẫn khá phổ biến là coi Điều 84 như cơ sở cho địa phương tự quyết định thu hồi đất quốc phòng, an ninh để thực hiện mọi loại dự án kinh tế – xã hội. Thực chất, điều luật chỉ áp dụng trong các trường hợp có dự án vì lợi ích quốc gia, công cộng, gắn với Điều 79, không áp dụng cho các dự án thuần túy vì lợi ích kinh doanh của một chủ thể tư nhân, trừ khi dự án đó được pháp luật đầu tư, đầu tư công, PPP xác định là vì lợi ích công cộng hoặc lợi ích quốc gia. Một nhầm lẫn khác là bỏ qua yêu cầu cập nhật quy hoạch sau thu hồi, dẫn đến việc quy hoạch sử dụng đất quốc phòng, an ninh không phản ánh đúng tình hình, dễ phát sinh tranh chấp và khó khăn trong quản lý.

Khi áp dụng Điều 84, cần lưu ý: (i) ý kiến thống nhất của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an theo khoản 1 là điều kiện bắt buộc, không chỉ mang tính tham khảo; (ii) mọi trường hợp thu hồi đất quốc phòng, an ninh ngoài quy hoạch hiện hành phải có chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ (khoản 2, khoản 3); (iii) quyết định thu hồi đất, quyết định chủ trương đầu tư và điều chỉnh quy hoạch phải được xử lý đồng bộ, tránh tình trạng dự án đã được triển khai nhưng hồ sơ pháp lý về đất quốc phòng, an ninh chưa hoàn chỉnh. Điều 84 vì vậy là cơ sở pháp lý quan trọng để kiểm soát rủi ro pháp lý, trách nhiệm cá nhân, tập thể trong các quyết định liên quan đến đất quốc phòng, an ninh.

5. Vai trò nghị định hướng dẫn

Khoản 4 giao Chính phủ quy định chi tiết Điều 84. Trong thực tiễn, nghị định hướng dẫn sẽ rất quan trọng ở các nội dung: trình tự, thủ tục xin ý kiến, phối hợp giữa Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; nội dung hồ sơ báo cáo Thủ tướng; cách thức cập nhật diện tích đất thu hồi vào quy hoạch sử dụng đất quốc phòng, an ninh và quy hoạch sử dụng đất địa phương. Khi áp dụng, không chỉ dựa vào Điều 84, mà còn phải đối chiếu các nghị định, thông tư chi tiết để đảm bảo đầy đủ hồ sơ, trình tự, tránh rủi ro bị coi là thu hồi, chuyển mục đích sử dụng đất quốc phòng, an ninh trái pháp luật.

Điều 84 Luật Đất đai 2024 áp dụng trong những trường hợp thu hồi đất nào?
Điều 84 áp dụng khi thu hồi đất quốc phòng, an ninh hoặc tài sản gắn liền với đất để phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc chuyển giao cho địa phương làm dự án vì lợi ích quốc gia, công cộng.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có được tự quyết việc thu hồi đất quốc phòng, an ninh không?
Không. UBND cấp tỉnh phải có ý kiến thống nhất của Bộ Quốc phòng hoặc Bộ Công an, và trong nhiều trường hợp phải báo cáo, xin chấp thuận của Thủ tướng trước khi quyết định thu hồi.
Khi thu hồi đất quốc phòng, an ninh ngoài quy hoạch hiện hành thì cơ quan nào có thẩm quyền chấp thuận?
Trong trường hợp thu hồi đất quốc phòng, an ninh chưa có trong quy hoạch, Bộ Quốc phòng hoặc Bộ Công an phải lấy ý kiến và báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, chấp thuận.
Dự án thuộc thẩm quyền Quốc hội về chủ trương đầu tư cần thủ tục gì về đất quốc phòng, an ninh?
Sau khi Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư, Thủ tướng phải xem xét, chấp thuận việc thu hồi đất quốc phòng, an ninh và tài sản gắn liền với đất để thực hiện dự án.
Việc cập nhật quy hoạch sau khi thu hồi đất quốc phòng, an ninh có bắt buộc không?
Có. Diện tích đất quốc phòng, an ninh đã thu hồi trong các trường hợp nêu tại Điều 84 phải được cập nhật khi rà soát, điều chỉnh quy hoạch theo quy định pháp luật.
Mục lục văn bản