Điều 73 Luật Đất đai 2024: Rà soát, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Bình luận Điều 73 Luật Đất đai 2024 về rà soát, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, căn cứ, thẩm quyền và lưu ý thực tiễn.

Điều 73. Rà soát, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

1. Việc điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thực hiện theo các nguyên tắc sau đây:

a) Việc điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải do cơ quan có thẩm quyền quyết định hoặc phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quyết định hoặc phê duyệt;

b) Cơ quan có thẩm quyền tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chịu trách nhiệm tổ chức lập điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;

c) Việc điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất không làm thay đổi mục tiêu của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;

d) Việc điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất không làm thay đổi chỉ tiêu sử dụng đất đã được quy hoạch sử dụng đất cấp trên xác định, phân bổ;

đ) Tuân thủ trình tự, thủ tục theo quy định của Luật này.

2. Cơ quan có thẩm quyền tổ chức lập quy hoạch có trách nhiệm tổ chức rà soát quy hoạch sử dụng đất định kỳ 05 năm để điều chỉnh phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn.

3. Việc rà soát, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất quốc gia, quy hoạch sử dụng đất quốc phòng, quy hoạch sử dụng đất an ninh thực hiện theo quy định của pháp luật về quy hoạch.

4. Căn cứ điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh bao gồm:

a) Do điều chỉnh quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh, quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành có sử dụng đất cấp quốc gia, liên tỉnh làm thay đổi cơ cấu sử dụng đất của cấp tỉnh;

b) Do việc thành lập, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính của đơn vị hành chính cấp tỉnh, đơn vị hành chính trực thuộc;

c) Do tác động của thiên tai, chiến tranh, yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh làm thay đổi mục đích, cơ cấu, vị trí, diện tích sử dụng đất.

5. Căn cứ điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất cấp huyện bao gồm:

a) Do điều chỉnh quy hoạch cấp trên trực tiếp làm thay đổi cơ cấu sử dụng đất của cấp huyện;

b) Do việc thành lập, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính của địa phương;

c) Do chiến tranh, yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh làm thay đổi mục đích, cơ cấu, vị trí, diện tích sử dụng đất;

d) Do tác động của thiên tai, ứng phó sự cố về môi trường làm thay đổi mục đích sử dụng đất; việc triển khai thực hiện quy hoạch tác động tiêu cực đến an sinh xã hội, môi trường sinh thái và ảnh hưởng đến cộng đồng;

đ) Có biến động về nguồn lực thực hiện quy hoạch, hình thành dự án trọng điểm phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng làm thay đổi định hướng sử dụng đất.

6. Việc điều chỉnh quy hoạch được thực hiện khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều này và được cơ quan có thẩm quyền quyết định hoặc phê duyệt cho phép điều chỉnh.

7. Việc điều chỉnh kế hoạch sử dụng đất được thực hiện khi có sự điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch đô thị hoặc có sự thay đổi về khả năng thực hiện kế hoạch sử dụng đất.

8. Việc điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thực hiện theo quy định tại các điều 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72 và 75 của Luật này.

9. Cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quyết định, phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp nào thì có thẩm quyền quyết định, phê duyệt điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp đó.

1. Mục đích và định hướng chính của Điều 73

Điều 73 hướng tới cân bằng giữa hai yêu cầu: ổn định định hướng sử dụng đất đã được phê duyệt và linh hoạt điều chỉnh khi bối cảnh kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, môi trường thay đổi. Việc điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất bị giới hạn bởi nguyên tắc không làm thay đổi mục tiêu tổng thể và không vượt quá chỉ tiêu sử dụng đất đã được cấp trên phân bổ. Như vậy, quy hoạch không phải bất biến, nhưng không được hiểu là công cụ có thể thay đổi theo ý chí chủ quan hoặc theo từng dự án riêng lẻ.

2. Các nguyên tắc cốt lõi khi điều chỉnh

Thứ nhất, chỉ cơ quan đã quyết định hoặc phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất mới có quyền quyết định hoặc phê duyệt điều chỉnh (khoản 1 và khoản 9). Nguyên tắc này chặn nguy cơ “hạ cấp thẩm quyền” hoặc can thiệp trái tuyến trong quá trình điều chỉnh. Thứ hai, cơ quan nào tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thì chịu trách nhiệm tổ chức lập điều chỉnh, giúp bảo đảm tính nhất quán về dữ liệu, phương pháp và cách tiếp cận. Thứ ba, việc điều chỉnh phải giữ nguyên mục tiêu và chỉ tiêu sử dụng đất đã được cấp trên xác định, đồng thời tuân thủ đầy đủ trình tự, thủ tục theo Luật Đất đai, tránh điều chỉnh “chắp vá” hoặc chạy theo lợi ích cục bộ.

3. Rà soát định kỳ và mối liên hệ với pháp luật về quy hoạch

Khoản 2 yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tổ chức lập quy hoạch phải rà soát quy hoạch sử dụng đất định kỳ 05 năm để kịp thời điều chỉnh theo thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội. Đây là cơ chế chủ động, không phụ thuộc vào đề xuất của nhà đầu tư hay phát sinh vấn đề mới. Đối với quy hoạch sử dụng đất quốc gia, quốc phòng, an ninh, khoản 3 dẫn chiếu áp dụng pháp luật về quy hoạch, thể hiện sự thống nhất hệ thống với Luật Quy hoạch và các quy hoạch ngành. Người áp dụng cần lưu ý: việc rà soát là nghĩa vụ bắt buộc, không phải lựa chọn tùy nghi, nhằm hạn chế tình trạng quy hoạch “treo”, lạc hậu.

4. Căn cứ kích hoạt việc điều chỉnh ở cấp tỉnh và cấp huyện

4.1. Cấp tỉnh

Khoản 4 liệt kê mang tính đóng các căn cứ điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, gồm: điều chỉnh quy hoạch cấp quốc gia, vùng, tỉnh hoặc quy hoạch kỹ thuật – chuyên ngành có sử dụng đất làm thay đổi cơ cấu sử dụng đất của tỉnh; thay đổi địa giới hành chính; tác động của thiên tai, chiến tranh, yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh làm thay đổi mục đích, cơ cấu, vị trí, diện tích sử dụng đất. Như vậy, không phải mọi nhu cầu đầu tư cụ thể đều là lý do chính đáng để điều chỉnh quy hoạch cấp tỉnh, mà phải gắn với những biến động có tính cấu trúc, khách quan.

4.2. Cấp huyện

Khoản 5 quy định căn cứ điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất cấp huyện đa dạng và gần với thực tiễn địa phương hơn. Ngoài các trường hợp điều chỉnh quy hoạch cấp trên, thay đổi địa giới, chiến tranh, yêu cầu quốc phòng, an ninh, còn có: tác động của thiên tai, sự cố môi trường làm thay đổi mục đích sử dụng đất; việc triển khai quy hoạch ảnh hưởng tiêu cực đến an sinh xã hội, môi trường sinh thái, cộng đồng; biến động nguồn lực thực hiện quy hoạch, xuất hiện dự án trọng điểm phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng làm thay đổi định hướng sử dụng đất. Điểm đáng chú ý là lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng được thừa nhận là căn cứ điều chỉnh, nhưng phải là dự án trọng điểm, không phải mọi dự án kinh doanh thông thường.

5. Sự khác biệt giữa điều chỉnh quy hoạch và điều chỉnh kế hoạch sử dụng đất

Khoản 6 xác định: điều chỉnh quy hoạch chỉ được thực hiện khi có một trong các căn cứ tại khoản 4, 5 và được cơ quan có thẩm quyền cho phép. Đây là điều kiện “kép”: vừa phải có căn cứ khách quan, vừa phải có quyết định chấp thuận. Khoản 7 phân biệt: điều chỉnh kế hoạch sử dụng đất được thực hiện khi: quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch đô thị được điều chỉnh hoặc có sự thay đổi khả năng thực hiện kế hoạch. Như vậy, kế hoạch sử dụng đất có mức độ linh hoạt cao hơn quy hoạch, nhưng vẫn phải bám sát quy hoạch và các điều chỉnh quy hoạch đã được phê duyệt.

6. Những nhầm lẫn thường gặp trong thực tiễn

Thứ nhất, nhầm lẫn giữa quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, từ đó cho rằng chỉ cần điều chỉnh kế hoạch là đủ, không cần điều chỉnh quy hoạch. Điều 73 đặt rõ trật tự: điều chỉnh quy hoạch là tiền đề, điều chỉnh kế hoạch là bước triển khai theo các thay đổi đó hoặc theo khả năng thực hiện. Thứ hai, nhiều trường hợp hiểu sai rằng nhu cầu của nhà đầu tư hoặc lợi ích kinh tế trước mắt là căn cứ điều chỉnh quy hoạch. Nội dung điều luật cho thấy căn cứ điều chỉnh mang tính khách quan (quy hoạch cấp trên, thiên tai, chiến tranh, an ninh, địa giới hành chính, dự án trọng điểm vì lợi ích quốc gia, công cộng…), không phải yêu cầu lợi ích thuần túy của một chủ thể cụ thể. Thứ ba, có xu hướng xem nhẹ yêu cầu không làm thay đổi mục tiêu và chỉ tiêu sử dụng đất đã được cấp trên phân bổ, dẫn tới đề xuất điều chỉnh vượt trần đất ở, đất công nghiệp… Điều 73 khẳng định đây là “giới hạn cứng” khi xem xét mọi đề xuất điều chỉnh.

7. Lưu ý khi áp dụng trong tình huống cụ thể

Khi tư vấn, cơ quan nhà nước và tổ chức, cá nhân liên quan cần xác định rõ: quy hoạch/kế hoạch cần điều chỉnh thuộc cấp nào, thẩm quyền phê duyệt thuộc cơ quan nào, đã tồn tại căn cứ theo khoản 4 hoặc khoản 5 hay chưa. Đồng thời, phải đánh giá tác động điều chỉnh tới mục tiêu tổng thể và chỉ tiêu sử dụng đất đã được cấp trên phê duyệt; nếu vượt quá phải đồng bộ điều chỉnh quy hoạch cấp trên, không thể “tự điều chỉnh” ở cấp dưới. Trong tranh chấp hoặc khiếu nại về điều chỉnh quy hoạch, việc đối chiếu đúng căn cứ và trình tự, thủ tục theo các điều 64 đến 72 và 75 Luật Đất đai 2024 là cơ sở quan trọng để đánh giá tính hợp pháp của quyết định điều chỉnh.

Khi nào được phép điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh theo Điều 73?
Khi có một trong các căn cứ tại khoản 4 Điều 73 như điều chỉnh quy hoạch cấp trên, thay đổi địa giới hành chính, thiên tai, chiến tranh, yêu cầu quốc phòng, an ninh.
Nhu cầu của nhà đầu tư có phải căn cứ điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất không?
Không. Điều 73 chỉ ghi nhận các căn cứ mang tính khách quan, nhất là lợi ích quốc gia, công cộng và các biến động về quy hoạch cấp trên, địa giới, thiên tai, quốc phòng, an ninh.
Ai có thẩm quyền quyết định điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất?
Cơ quan nhà nước, người đã quyết định hoặc phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp nào thì có thẩm quyền quyết định, phê duyệt điều chỉnh của cấp đó.
Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất có được làm thay đổi chỉ tiêu sử dụng đất không?
Không được làm thay đổi chỉ tiêu sử dụng đất đã được quy hoạch sử dụng đất cấp trên xác định, phân bổ, trừ trường hợp cấp trên cũng được điều chỉnh tương ứng.
Điều chỉnh kế hoạch sử dụng đất khác gì với điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất?
Điều chỉnh quy hoạch cần căn cứ tại khoản 4, 5 Điều 73 và quyết định cho phép; còn kế hoạch điều chỉnh khi quy hoạch, quy hoạch đô thị điều chỉnh hoặc thay đổi khả năng thực hiện kế hoạch.
Mục lục văn bản