Điều 72 Luật Đất đai 2024: Thẩm quyền quyết định, phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Bình luận Điều 72 Luật Đất đai 2024 về thẩm quyền quyết định, phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và ý nghĩa khi áp dụng thực tiễn.
Điều 72. Thẩm quyền quyết định, phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
1. Thẩm quyền quyết định, phê duyệt quy hoạch sử dụng đất quốc gia, quy hoạch sử dụng đất quốc phòng, quy hoạch sử dụng đất an ninh thực hiện theo quy định của Luật Quy hoạch.
2. Chính phủ phê duyệt kế hoạch sử dụng đất quốc gia.
3. Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh đối với thành phố trực thuộc Trung ương không phải lập quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh.
4. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt quy hoạch sử dụng đất cấp huyện, kế hoạch sử dụng đất hằng năm cấp huyện.
5. Trước khi phê duyệt kế hoạch sử dụng đất hằng năm cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thông qua danh mục công trình, dự án phải thu hồi đất, trong đó có dự án thu hồi đất để đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án có sử dụng đất; dự án phải chuyển mục đích sử dụng đất mà có diện tích đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất theo quy hoạch, trừ các trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 67 của Luật này.
1. Mục tiêu điều chỉnh và ý nghĩa thực tiễn
Điều 72 nhằm phân định rành mạch thẩm quyền giữa cơ quan Trung ương và địa phương trong chuỗi công cụ quản lý đất đai là quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất. Việc xác lập rõ chủ thể nào được quyết định hoặc phê duyệt ở từng cấp quy hoạch, kế hoạch giúp bảo đảm tính thống nhất của quy hoạch sử dụng đất quốc gia, đồng thời vẫn tạo không gian chủ động cho địa phương. Trên thực tế, đây là căn cứ trực tiếp để đánh giá tính hợp pháp của các bản quy hoạch, kế hoạch khi phát sinh tranh chấp hoặc khiếu kiện liên quan đến thu hồi, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất.
2. Cấu trúc thẩm quyền theo từng cấp quy hoạch, kế hoạch
Điều luật thiết kế theo logic từ trên xuống: quy hoạch sử dụng đất quốc gia, quốc phòng, an ninh được xử lý theo Luật Quy hoạch; kế hoạch sử dụng đất quốc gia thuộc thẩm quyền phê duyệt của Chính phủ; quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt. Cách thiết kế này cho thấy: càng xuống cấp dưới thì cơ quan cấp trên vẫn nắm quyền phê duyệt cuối cùng, nhằm kiểm tra, giám sát và bảo đảm thống nhất với định hướng phát triển chung và an ninh, quốc phòng.
Đáng chú ý, quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh không phải lúc nào cũng tồn tại đầy đủ cho mọi đô thị, nên điều luật quy định riêng trường hợp thành phố trực thuộc Trung ương không lập quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh nhưng vẫn phải có kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh được Thủ tướng phê duyệt. Điều này nhấn mạnh vai trò điều tiết của Trung ương đối với các đô thị đặc biệt, có tác động lớn tới cấu trúc phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh.
3. Cơ chế “phê duyệt 2 tầng” đối với kế hoạch sử dụng đất cấp huyện
Đối với cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan phê duyệt quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất hằng năm, nhưng trước đó phải trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thông qua danh mục công trình, dự án thuộc diện thu hồi đất hoặc chuyển mục đích sử dụng đất thuộc các loại đất nhạy cảm (đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất theo quy hoạch). Cơ chế “phê duyệt 2 tầng” này kết hợp quyết định hành chính của Ủy ban nhân dân với sự giám sát, quyết nghị mang tính dân chủ, đại diện của Hội đồng nhân dân.
Về thực tiễn, đây là chốt chặn quan trọng trước khi đưa các dự án thu hồi đất, đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư vào kế hoạch sử dụng đất hằng năm cấp huyện. Việc danh mục dự án không được Hội đồng nhân dân thông qua có thể dẫn đến hệ quả kế hoạch sử dụng đất không được phê duyệt hoặc phải điều chỉnh. Khi đánh giá tính hợp pháp của một dự án thu hồi, giao đất, cần đối chiếu xem dự án đó có nằm trong danh mục được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thông qua trước khi phê duyệt kế hoạch sử dụng đất hằng năm cấp huyện hay không.
4. Một số nhầm lẫn thường gặp khi áp dụng
Thứ nhất, dễ nhầm giữa thẩm quyền “quyết định, phê duyệt quy hoạch” với thẩm quyền “thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất”. Điều 72 chỉ điều chỉnh thẩm quyền đối với công cụ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; thẩm quyền thu hồi, giao, cho thuê đất nằm ở các điều khoản khác. Việc một cơ quan được phê duyệt quy hoạch, kế hoạch không đồng nghĩa cơ quan đó được mặc nhiên áp dụng mọi quyết định thu hồi, giao đất nếu pháp luật chuyên ngành giao thẩm quyền cho chủ thể khác.
Thứ hai, không ít trường hợp cho rằng chỉ cần dự án “phù hợp quy hoạch” là đủ điều kiện triển khai, bỏ qua bước kiểm tra kế hoạch sử dụng đất hằng năm. Trên thực tế, đối với thu hồi đất, giao đất, chuyển mục đích, điều kiện thường là vừa phù hợp quy hoạch, vừa phải được đưa vào kế hoạch sử dụng đất hằng năm cấp huyện đã được phê duyệt. Điều 72 là cơ sở để xác định cơ quan nào phê duyệt kế hoạch này, từ đó đánh giá tính hợp lệ của quyết định hành chính đi kèm.
5. Lưu ý khi vận dụng trong tư vấn và giải quyết tranh chấp
Khi tư vấn dự án hoặc bảo vệ quyền lợi trong tranh chấp đất đai, cần kiểm tra theo trình tự: (i) quy hoạch sử dụng đất quốc gia, cấp tỉnh đã được phê duyệt đúng thẩm quyền chưa; (ii) quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện có được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt đúng trình tự, đặc biệt là việc Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thông qua danh mục dự án thu hồi, chuyển mục đích sử dụng đất; (iii) dự án cụ thể có được đưa vào kế hoạch sử dụng đất hằng năm cấp huyện đã được phê duyệt hay không. Bất kỳ mắt xích nào không đúng thẩm quyền hoặc sai quy trình theo Điều 72 và các điều liên quan đều có thể là căn cứ yêu cầu xem xét lại tính hợp pháp của các quyết định thu hồi, giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất.