Điều 67 Luật Đất đai 2024: Kế hoạch sử dụng đất hằng năm cấp huyện
Bình luận Điều 67 Luật Đất đai 2024 về kế hoạch sử dụng đất hằng năm cấp huyện, căn cứ lập, tiêu chí ưu tiên và ngoại lệ áp dụng.
Điều 67. Kế hoạch sử dụng đất hằng năm cấp huyện
1. Căn cứ lập kế hoạch sử dụng đất hằng năm cấp huyện bao gồm:
a) Kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh; quy hoạch sử dụng đất cấp huyện; quy hoạch xây dựng; quy hoạch đô thị đối với trường hợp không phải lập quy hoạch sử dụng đất cấp huyện;
b) Hiện trạng sử dụng đất; kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất năm trước;
c) Nhu cầu, khả năng sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực của các cấp, của các tổ chức; các công trình, dự án đã có chủ trương đầu tư;
d) Khả năng đầu tư, huy động nguồn lực để thực hiện kế hoạch sử dụng đất.
2. Tiêu chí lựa chọn các công trình, dự án ưu tiên trong kế hoạch sử dụng đất hằng năm cấp huyện bao gồm:
a) Bảo đảm quốc phòng, an ninh;
b) Hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường;
c) Tính khả thi của việc thực hiện.
3. Nội dung kế hoạch sử dụng đất hằng năm cấp huyện bao gồm:
a) Diện tích các loại đất đã được phân bổ trong quy hoạch sử dụng đất cấp huyện và diện tích các loại đất theo nhu cầu sử dụng đất của cấp huyện, cấp xã trong năm kế hoạch và được xác định đến từng đơn vị hành chính cấp xã;
b) Danh mục các công trình, dự án dự kiến thực hiện trong năm; dự án bố trí đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số (nếu có); diện tích đất để đấu giá quyền sử dụng đất, các dự án thu hồi đất trong năm, dự án tái định cư, đất sản xuất dự kiến bồi thường cho người có đất thu hồi;
c) Diện tích các loại đất, danh mục các công trình, dự án đã được xác định trong năm kế hoạch trước được tiếp tục thực hiện theo quy định tại khoản 7 Điều 76 của Luật này;
d) Xác định diện tích các loại đất cần chuyển mục đích sử dụng đối với các loại đất phải xin phép, trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 116 của Luật này;
đ) Giải pháp, nguồn lực thực hiện kế hoạch sử dụng đất.
4. Dự án chưa có trong kế hoạch sử dụng đất hằng năm cấp huyện thuộc một trong các trường hợp sau đây thì được thực hiện mà không phải bổ sung vào kế hoạch sử dụng đất hằng năm cấp huyện:
a) Đã có quyết định đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư công thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, người đứng đầu Bộ, cơ quan trung ương, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh;
b) Đã có quyết định phê duyệt dự án đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, người đứng đầu Bộ, cơ quan trung ương, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh;
c) Đã có quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư, quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư, quyết định chấp thuận nhà đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ.
d) Dự án có sử dụng đất phục vụ cho việc thu hồi đất quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật này.
5. Xây dựng và cập nhật dữ liệu kế hoạch sử dụng đất hằng năm cấp huyện vào cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai.
Ý nghĩa điều luật
Điều 67 đặt kế hoạch sử dụng đất hằng năm cấp huyện ở vị trí là “cầu nối” giữa quy hoạch và quyết định hành chính cụ thể. Nhà làm luật không chỉ yêu cầu phân bổ chỉ tiêu đất đai, mà còn buộc cơ quan có thẩm quyền xác định rõ dự án nào được ưu tiên, dự án nào có thể triển khai, và dự án nào chưa đủ điều kiện đưa vào thực hiện.
Điểm đáng chú ý là điều luật này hướng đến tính khả thi hơn là chỉ dừng ở tính định hướng. Vì vậy, kế hoạch sử dụng đất hằng năm không phải là danh mục mang tính hình thức, mà là công cụ sàng lọc nhu cầu sử dụng đất theo năng lực đầu tư, nguồn lực và mức độ phù hợp với quy hoạch cấp trên.
Các căn cứ và điều kiện để lập kế hoạch
Khoản 1 cho thấy việc lập kế hoạch phải dựa trên đồng thời nhiều lớp căn cứ: quy hoạch, hiện trạng sử dụng đất, kết quả thực hiện năm trước, nhu cầu các ngành và khả năng huy động nguồn lực. Cách thiết kế này nhằm hạn chế tình trạng lập kế hoạch xa rời thực tế hoặc “ôm” quá nhiều dự án nhưng không có khả năng triển khai.
Về mặt áp dụng, đây là điều khoản đòi hỏi hồ sơ lập kế hoạch phải chứng minh được tính có thật của nhu cầu sử dụng đất và tính có thể thực hiện của phương án. Nếu thiếu căn cứ về nhu cầu, thiếu dữ liệu hiện trạng, hoặc thiếu nguồn lực thực hiện, kế hoạch sẽ dễ bị xem là không bảo đảm chất lượng lập kế hoạch.
Tiêu chí ưu tiên dự án
Khoản 2 xác lập ba tiêu chí lựa chọn công trình, dự án ưu tiên: quốc phòng, an ninh; hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường; và tính khả thi. Đây là dấu hiệu cho thấy cơ quan lập kế hoạch không được lựa chọn dự án theo cảm tính hay theo áp lực hành chính đơn thuần.
Trong thực tiễn, nhiều người hiểu nhầm rằng chỉ cần dự án “đã có chủ trương đầu tư” là đương nhiên được đưa vào kế hoạch. Cách hiểu đúng là dự án phải đồng thời đáp ứng tiêu chí ưu tiên và phù hợp với tổng thể phân bổ đất đai; có chủ trương đầu tư chưa đồng nghĩa với việc chắc chắn được bố trí trong kế hoạch sử dụng đất hằng năm.
Nội dung cần có trong kế hoạch
Khoản 3 cho thấy kế hoạch hằng năm phải cụ thể hóa đến từng đơn vị hành chính cấp xã, kèm danh mục công trình, dự án, nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất và nguồn lực thực hiện. Đây là mức độ chi tiết đủ để cơ quan có thẩm quyền dùng làm căn cứ giải quyết thủ tục đất đai, thu hồi đất và bố trí tái định cư.
Điểm thực tiễn cần lưu ý là kế hoạch không chỉ liệt kê dự án, mà còn phải phản ánh cả các phương án liên quan như đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số, đất đấu giá, đất tái định cư và diện tích bồi thường. Điều này cho thấy kế hoạch sử dụng đất không tách rời chính sách an sinh, bồi thường và tổ chức thực hiện dự án.
Trường hợp không phải bổ sung kế hoạch
Khoản 4 là cơ chế ngoại lệ quan trọng: một số dự án đã có quyết định đầu tư, phê duyệt dự án PPP hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư theo thẩm quyền đặc biệt thì được thực hiện mà không phải bổ sung vào kế hoạch sử dụng đất hằng năm cấp huyện. Quy định này nhằm tránh ách tắc thủ tục đối với các dự án đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định ở cấp cao hơn.
Tuy nhiên, đây không phải là sự miễn trừ toàn diện đối với mọi yêu cầu về đất đai. Dự án vẫn phải đáp ứng các điều kiện pháp luật khác có liên quan; điều luật chỉ loại bỏ yêu cầu “bổ sung vào kế hoạch hằng năm cấp huyện” trong những trường hợp đã được liệt kê rõ.
Lưu ý khi áp dụng
Điểm dễ nhầm nhất là coi kế hoạch sử dụng đất hằng năm chỉ là thủ tục nội bộ của cấp huyện. Thực tế, nó là căn cứ pháp lý trực tiếp chi phối nhiều quyết định hành chính về đất đai, nên sai sót trong lập hoặc cập nhật kế hoạch có thể kéo theo rủi ro cho cả dự án và thủ tục thực hiện.
Khoản 5 về xây dựng và cập nhật dữ liệu vào cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai cho thấy điều luật này còn mang ý nghĩa số hóa quản lý đất đai. Từ góc độ thực hành, việc cập nhật dữ liệu không chỉ là yêu cầu kỹ thuật mà còn là điều kiện để bảo đảm tính minh bạch, thống nhất và tra cứu được của kế hoạch trong quản lý nhà nước.
Kết luận áp dụng
Điều 67 cần được hiểu như một cơ chế “lọc và hợp thức hóa” việc triển khai sử dụng đất ở cấp huyện theo hướng có căn cứ, có ưu tiên và có tính thực thi. Khi áp dụng, trọng tâm không nằm ở việc liệt kê dự án, mà ở chỗ dự án đó có đủ nền tảng pháp lý, quy hoạch và nguồn lực để được đưa vào kế hoạch hay không.