Điều 61 Luật Đất đai 2024: Hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Bình luận Điều 61 Luật Đất đai 2024 về hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và mối quan hệ giữa các cấp, phục vụ áp dụng thực tiễn.
Điều 61. Hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
1. Hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất bao gồm:
a) Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc gia;
b) Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh;
c) Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện, kế hoạch sử dụng đất hằng năm cấp huyện;
d) Quy hoạch sử dụng đất quốc phòng;
đ) Quy hoạch sử dụng đất an ninh.
2. Quy hoạch sử dụng đất quốc gia, quy hoạch sử dụng đất quốc phòng và quy hoạch sử dụng đất an ninh thuộc hệ thống quy hoạch quốc gia, thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về quy hoạch.
3. Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh và quy hoạch sử dụng đất cấp huyện là quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành cụ thể hóa quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh.
Vị trí của Điều 61 trong hệ thống pháp luật đất đai và quy hoạch
Điều 61 đóng vai trò là điều khoản nền tảng, xác định “hệ thống” các loại quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, qua đó gắn Luật Đất đai với pháp luật về quy hoạch. Quy định này nhằm bảo đảm công tác sử dụng đất không vận hành biệt lập, mà nằm trong tổng thể hệ thống quy hoạch quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh. Khi xem xét thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, cần luôn đối chiếu với cấu trúc hệ thống đã được Điều 61 định hình.
Những tầng nấc quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cần nắm
Khoản 1 Điều 61 xác định 5 mắt xích: quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc gia; cấp tỉnh; cấp huyện (bao gồm kế hoạch hằng năm); quy hoạch sử dụng đất quốc phòng; quy hoạch sử dụng đất an ninh. Như vậy, người áp dụng luật phải phân biệt hai trục chính: trục lãnh thổ (quốc gia – tỉnh – huyện) và trục chức năng (quốc phòng – an ninh). Kế hoạch chỉ xuất hiện ở quốc gia, tỉnh và hằng năm cấp huyện, còn quy hoạch là công cụ định hướng dài hạn, mang tính chiến lược.
Quy hoạch sử dụng đất thuộc hệ thống quy hoạch quốc gia
Khoản 2 Điều 61 khẳng định quy hoạch sử dụng đất quốc gia, quy hoạch sử dụng đất quốc phòng và quy hoạch sử dụng đất an ninh nằm trong hệ thống quy hoạch quốc gia và phải tuân thủ đồng thời Luật Đất đai và pháp luật về quy hoạch. Ý nghĩa thực tiễn là các quy hoạch này không thể được lập, phê duyệt, điều chỉnh đơn thuần theo Luật Đất đai mà phải đáp ứng các nguyên tắc, trình tự, nội dung, thẩm quyền theo Luật Quy hoạch. Khi xử lý xung đột hoặc mâu thuẫn giữa các loại quy hoạch, cần nhận diện rõ loại quy hoạch đang xem xét có thuộc hệ thống quy hoạch quốc gia hay không.
Tính chất kỹ thuật, chuyên ngành của quy hoạch cấp tỉnh, huyện
Khoản 3 Điều 61 làm rõ quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh và cấp huyện chỉ là quy hoạch có tính kỹ thuật, chuyên ngành để cụ thể hóa quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh. Điểm cốt lõi là các quy hoạch này không phải “quy hoạch chiến lược” tự chủ, mà phải bám sát và triển khai chi tiết các định hướng đã được xác lập ở cấp trên. Trong thực tiễn, khi lập quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, huyện, mọi nội dung phân bổ chỉ tiêu, khoanh định khu chức năng sử dụng đất phải chứng minh sự phù hợp với quy hoạch quốc gia, vùng và quy hoạch tỉnh; nếu trái, nguy cơ bị yêu cầu điều chỉnh hoặc không được phê duyệt là rất cao.
Các nhầm lẫn thường gặp khi áp dụng Điều 61
Một nhầm lẫn phổ biến là coi quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, huyện là một loại “quy hoạch phát triển” độc lập với quy hoạch tỉnh, quy hoạch vùng, dẫn đến đề xuất các phương án sử dụng đất không phù hợp với khung định hướng chung. Một nhầm lẫn khác là không phân biệt rõ quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, từ đó yêu cầu điều chỉnh kế hoạch để giải quyết các vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh quy hoạch dài hạn. Ngoài ra, nhiều chủ thể không nhận diện được tính chất quy hoạch quốc phòng, an ninh thuộc hệ thống quy hoạch quốc gia, nên bỏ qua yêu cầu tuân thủ pháp luật về quy hoạch khi tham gia góp ý, thẩm định.
Lưu ý khi áp dụng Điều 61 trong các tình huống cụ thể
Thứ nhất, khi phân tích tính pháp lý của một dự án đầu tư, dự án hạ tầng, cần xác định dự án nằm trên địa bàn nào, liên quan đến loại đất gì, từ đó đối chiếu lần lượt với quy hoạch sử dụng đất quốc gia, quy hoạch tỉnh, quy hoạch huyện và nếu liên quan, cả quy hoạch quốc phòng, an ninh. Thứ hai, khi kiến nghị điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh hoặc huyện, Điều 61 nhắc rằng quy hoạch này chỉ là cụ thể hóa, nên hồ sơ, luận cứ phải chứng minh sự thống nhất với quy hoạch cấp trên, không thể đề xuất những điều chỉnh làm phá vỡ cấu trúc quy hoạch quốc gia hoặc quy hoạch vùng. Thứ ba, trường hợp các văn bản dưới luật hoặc hồ sơ quy hoạch sử dụng đất mô tả sai hoặc thiếu loại quy hoạch, kế hoạch theo khoản 1 Điều 61, cần xem đây là dấu hiệu vi phạm về trình tự, nội dung thể hiện hệ thống quy hoạch, có thể là căn cứ để xem xét lại tính hợp pháp của quyết định phê duyệt quy hoạch liên quan.