Điều 35 Luật Đất đai 2024: Quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất
Bình luận Điều 35 Luật Đất đai 2013 về quyền và nghĩa vụ tổ chức kinh tế khi nhận chuyển nhượng, chuyển mục đích sử dụng đất.
Điều 35. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất
1. Tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất có quyền và nghĩa vụ chung quy định tại Điều 26 và Điều 31 của Luật này.
2. Tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất có nguồn gốc do được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất hoặc Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê thì có quyền và nghĩa vụ quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 33 của Luật này.
3. Tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp theo quy định của pháp luật thì có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
a) Trường hợp nhận chuyển nhượng và không chuyển mục đích sử dụng đất thì có quyền và nghĩa vụ quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 33 của Luật này;
b) Trường hợp nhận chuyển nhượng và chuyển mục đích sử dụng đất mà thuộc trường hợp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê thì có quyền và nghĩa vụ quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 33 của Luật này;
c) Trường hợp nhận chuyển nhượng và chuyển mục đích sử dụng đất mà thuộc trường hợp được Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hằng năm thì có quyền và nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều 34 của Luật này.
4. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất từ đất không thu tiền sử dụng đất sang đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất được quy định như sau:
a) Trường hợp thuộc hình thức Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê thì có quyền và nghĩa vụ quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 33 của Luật này;
b) Trường hợp thuộc hình thức Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hằng năm thì có quyền và nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều 34 của Luật này.
1. Mục đích điều chỉnh và tư duy lập pháp cốt lõi
Điều 35 không tạo ra một nhóm quyền, nghĩa vụ mới mà đóng vai trò là “cầu nối” giữa các chế độ sử dụng đất đã được thiết kế tại Điều 26, Điều 31, Điều 33 và Điều 34 Luật Đất đai 2013. Trọng tâm là định vị rõ quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế trong các tình huống: nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhận đất có nguồn gốc do Nhà nước giao/cho thuê, và được phép chuyển mục đích sử dụng đất. Cách tiếp cận này nhằm bảo đảm tính thống nhất, tránh xung đột áp dụng giữa các điều luật khi doanh nghiệp dịch chuyển từ một “chế độ đất” sang chế độ khác.
2. Các nhóm tình huống và điều kiện áp dụng chính
2.1. Nhóm quyền, nghĩa vụ chung khi nhận chuyển nhượng hoặc chuyển mục đích
Khoản 1 Điều 35 nhắc lại nguyên tắc: mọi tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoặc chuyển mục đích đều phải tuân theo quyền, nghĩa vụ chung tại Điều 26 (người sử dụng đất) và Điều 31 (tổ chức kinh tế sử dụng đất). Nghĩa là, dù nguồn gốc đất khác nhau, doanh nghiệp vẫn phải đáp ứng các nghĩa vụ cơ bản như: sử dụng đất đúng mục đích, đăng ký, kê khai, nộp nghĩa vụ tài chính, bảo vệ môi trường, không xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.
2.2. Đất có nguồn gốc do Nhà nước giao, cho thuê trả tiền một lần
Khoản 2 và các điểm a, b khoản 3 nhấn mạnh trường hợp tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà đất đó có nguồn gốc do Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất thu tiền một lần cho cả thời gian thuê. Khi đó, doanh nghiệp được “kế thừa” quyền, nghĩa vụ theo khoản 1 và khoản 3 Điều 33 Luật Đất đai 2013; đây là chế độ sử dụng đất tương đối linh hoạt, thường cho phép chuyển nhượng, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất rộng hơn so với đất thuê trả tiền hằng năm. Điều cần nắm là: yếu tố nguồn gốc và hình thức trả tiền quyết định phạm vi quyền tài sản mà tổ chức kinh tế được hưởng.
2.3. Đất nông nghiệp và yêu cầu tuân thủ quy định chuyên ngành
Khoản 3 Điều 35 dành riêng cho đất nông nghiệp, nhấn mạnh rằng việc nhận chuyển nhượng phải “theo quy định của pháp luật”, tức phải tuân theo hạn mức, điều kiện chuyển nhượng, chuyển mục đích, tích tụ đất, và các giới hạn liên quan đến an ninh lương thực, bảo vệ quỹ đất trồng lúa. Trong trường hợp nhận chuyển nhượng mà không chuyển mục đích sử dụng đất, tổ chức kinh tế được áp dụng quyền, nghĩa vụ như đất giao có thu tiền hoặc đất thuê trả tiền một lần (Điều 33). Nếu nhận chuyển nhượng và chuyển mục đích sang hình thức Nhà nước giao có thu tiền hoặc thuê trả tiền một lần, vẫn áp dụng khung quyền, nghĩa vụ theo Điều 33. Ngược lại, nếu chuyển sang hình thức thuê đất trả tiền hằng năm thì doanh nghiệp chỉ được hưởng và phải thực hiện quyền, nghĩa vụ theo khoản 1 Điều 34, vốn hạn chế hơn về khả năng chuyển nhượng, thế chấp bằng quyền sử dụng đất.
2.4. Chuyển từ đất không thu tiền sang đất có thu tiền hoặc đất thuê
Khoản 4 Điều 35 xử lý trường hợp chuyển mục đích từ đất không thu tiền sử dụng đất sang chế độ có thu tiền hoặc sang đất thuê. Khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích và đồng thời xác định hình thức sử dụng đất mới (giao có thu tiền, thuê trả tiền một lần, thuê trả tiền hằng năm), thì quyền, nghĩa vụ của tổ chức kinh tế sẽ “chuyển trạng thái” tương ứng: nếu là giao có thu tiền hoặc thuê trả tiền một lần thì áp dụng Điều 33; nếu là thuê trả tiền hằng năm thì áp dụng Điều 34. Điểm cốt lõi trong thực tiễn là: doanh nghiệp phải nhận diện đúng hình thức sử dụng đất sau khi chuyển mục đích, không chỉ quan tâm đến mục đích (thương mại, dịch vụ, sản xuất…) mà bỏ qua chế độ tài chính gắn với đất.
3. Những nhầm lẫn thường gặp khi áp dụng Điều 35
Nhầm lẫn phổ biến là cho rằng chỉ cần có quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất thì quyền của tổ chức kinh tế tự động “mở rộng” như đất giao có thu tiền, bất kể hình thức sử dụng đất mới. Trên thực tế, nếu cơ quan nhà nước quyết định cho thuê đất thu tiền hằng năm, doanh nghiệp không có quyền như trường hợp giao đất có thu tiền hoặc thuê trả tiền một lần; đặc biệt bị hạn chế trong việc chuyển nhượng, thế chấp quyền sử dụng đất mà chỉ được thế chấp tài sản gắn liền với đất theo Điều 34. Một sai lầm khác là bỏ qua yếu tố nguồn gốc đất trước khi chuyển nhượng, dẫn đến hợp đồng, phương án tài chính hoặc bảo đảm nghĩa vụ không tương thích với chế độ pháp lý thực sự của thửa đất.
4. Lưu ý thực tiễn khi áp dụng cho doanh nghiệp
Thứ nhất, trước khi ký kết hợp đồng nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tổ chức kinh tế cần kiểm tra đầy đủ hồ sơ pháp lý để xác định: đất có nguồn gốc do Nhà nước giao hay cho thuê, hình thức trả tiền (một lần hay hằng năm), loại đất (nông nghiệp, phi nông nghiệp) và các ràng buộc quy hoạch. Các thông tin này là cơ sở để xác định chính xác Điều 33 hay Điều 34 được áp dụng. Thứ hai, khi xây dựng phương án chuyển mục đích sử dụng đất, doanh nghiệp cần gắn liền với phương án tài chính: lựa chọn giữa giao đất có thu tiền, thuê trả tiền một lần hoặc thuê trả tiền hằng năm sẽ làm thay đổi khả năng huy động vốn, chuyển nhượng, và mức độ ổn định của quyền sử dụng đất. Thứ ba, với đất nông nghiệp, cần đặc biệt chú ý tới quy định về điều kiện chuyển mục đích và hạn chế đối tượng được nhận chuyển nhượng theo Luật Đất đai và pháp luật chuyên ngành, tránh tình trạng hợp đồng dân sự bị vô hiệu hoặc không được đăng ký do vi phạm điều kiện sử dụng đất.