Điều 245 Luật Đất đai 2024: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 77/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 21/2017/QH14, Luật số 47/2019/QH14 và Nghị quyết số 96/2023/QH15
Bình luận pháp lý Điều 245 Luật Tổ chức chính quyền địa phương về thẩm quyền đất đai và quyết định đơn vị hành chính.
Điều 245. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 77/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 21/2017/QH14, Luật số 47/2019/QH14 và Nghị quyết số 96/2023/QH15
1. Sửa đổi, bổ sung điểm h khoản 3 Điều 19 như sau:
“h) Thông qua quy hoạch sử dụng đất của tỉnh trước khi trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; quyết định biện pháp quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác, bảo vệ môi trường trong phạm vi được phân quyền.”.
2. Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 2 Điều 26 như sau:
“a) Thông qua kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trung hạn và hằng năm của huyện, quy hoạch sử dụng đất của huyện trước khi trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt;”.
3. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 40 như sau:
“2. Thông qua kế hoạch sử dụng đất của thành phố trực thuộc Trung ương theo quy định của Luật Đất đai trước khi trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.”.
4. Bổ sung khoản 2a vào sau khoản 2 Điều 42 như sau:
“2a. Phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của huyện trực thuộc theo quy định của Luật Đất đai.”.
5. Sửa đổi, bổ sung Điều 129 như sau:
“Điều 129. Thẩm quyền quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính, đặt tên, đổi tên đơn vị hành chính
1. Quốc hội quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính cấp tỉnh; đặt tên, đổi tên đơn vị hành chính cấp tỉnh.
2. Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã; đặt tên, đổi tên đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã.
3. Chính phủ trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính; đặt tên, đổi tên đơn vị hành chính quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.”.
Trọng tâm sửa đổi: gắn thẩm quyền với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Điều 245 tập trung điều chỉnh các điều khoản về thẩm quyền của HĐND, UBND cấp tỉnh, huyện và thành phố trực thuộc Trung ương trong việc thông qua và phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Các sửa đổi nhằm bảo đảm sự thống nhất với Luật Đất đai, làm rõ đầu mối quyết định ở mỗi cấp, tránh chồng chéo giữa cơ quan dân cử và cơ quan hành chính.
Tại điểm h khoản 3 Điều 19, HĐND cấp tỉnh được khẳng định thẩm quyền thông qua quy hoạch sử dụng đất trước khi trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đồng thời quyết định biện pháp quản lý, sử dụng đất, tài nguyên và bảo vệ môi trường trong phạm vi được phân quyền. Đây là sự nhấn mạnh vai trò HĐND tỉnh trong chính sách tài nguyên, môi trường, gắn với chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương.
Phân định thẩm quyền giữa HĐND và UBND trong chuỗi quyết định
Điểm a khoản 2 Điều 26 sửa đổi làm rõ HĐND cấp huyện có thẩm quyền thông qua kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội trung hạn, hằng năm và quy hoạch sử dụng đất của huyện trước khi trình UBND cấp tỉnh phê duyệt. Như vậy, quy hoạch đất đai ở cấp huyện được HĐND huyện xem xét, thông qua, sau đó mới được UBND tỉnh phê duyệt, bảo đảm tính dân chủ và kiểm soát quyền lực.
Khoản 2 Điều 40 nhấn mạnh trách nhiệm HĐND thành phố trực thuộc Trung ương trong việc thông qua kế hoạch sử dụng đất của thành phố trước khi trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Cơ chế này tương đồng với tỉnh, nhưng đặt trong bối cảnh thành phố trực thuộc Trung ương có tính đặc thù về quy mô, tính chất phát triển và nhu cầu sử dụng đất.
Thẩm quyền UBND tỉnh về huyện trực thuộc trong lĩnh vực đất đai
Khoản 2a Điều 42 được bổ sung trao cho UBND cấp tỉnh thẩm quyền phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của huyện trực thuộc theo Luật Đất đai. Điểm đáng chú ý là tại cấp huyện, HĐND huyện chỉ thông qua, còn UBND tỉnh mới là cơ quan phê duyệt cuối cùng. Điều này phản ánh nguyên tắc quản lý thống nhất đất đai theo lãnh thổ cấp tỉnh, đồng thời kiểm soát chất lượng quy hoạch cấp dưới.
Khi áp dụng, cần phân biệt rõ: "thông qua" là thẩm quyền của HĐND (cơ quan dân cử), còn "phê duyệt" là thẩm quyền của UBND cấp tỉnh hoặc Thủ tướng Chính phủ tùy cấp quy hoạch. Tránh nhầm lẫn cho rằng HĐND là cơ quan phê duyệt cuối cùng trong mọi trường hợp. Việc viện dẫn phải gắn với Luật Đất đai để xác định chính xác quy trình và hồ sơ tương ứng.
Thẩm quyền về thành lập, giải thể, điều chỉnh đơn vị hành chính
Điều 129 được sửa đổi, bổ sung nhằm tái khẳng định, hệ thống hóa thẩm quyền quyết định đối với đơn vị hành chính. Quốc hội quyết định việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính cấp tỉnh, đồng thời đặt tên, đổi tên đơn vị hành chính cùng cấp. Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định tương tự đối với cấp huyện và cấp xã.
Khoản 3 Điều 129 quy định Chính phủ là cơ quan trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định các vấn đề nêu trên. Cần lưu ý, Chính phủ không phải là cơ quan quyết định mà là cơ quan chuẩn bị, thẩm tra phương án, hồ sơ và trình. Sai lầm thường gặp là cho rằng Chính phủ có quyền tự quyết điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính; Điều 245 khẳng định lại nguyên tắc quyền quyết định thuộc Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Lưu ý khi áp dụng và những nhầm lẫn thường gặp
Nhầm lẫn giữa thẩm quyền theo Luật Đất đai và Luật Tổ chức chính quyền địa phương
Điều 245 chỉ sửa đổi, bổ sung về thẩm quyền, không thay thế các quy định kỹ thuật về trình tự, thủ tục lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Khi áp dụng, phải đồng thời đối chiếu với Luật Đất đai và văn bản hướng dẫn để tránh lẫn lộn giữa bước "thông qua" tại HĐND và bước "phê duyệt" tại UBND hoặc Thủ tướng Chính phủ.
Điều kiện "kích hoạt" thẩm quyền quyết định đơn vị hành chính
Việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính theo Điều 129 chỉ đặt ra khi có đề án và hồ sơ đủ điều kiện do Chính phủ trình. Điều luật này không tự mình quy định nội dung tiêu chí, điều kiện mà dẫn chiếu tới hệ thống pháp luật liên quan (như luật về đơn vị hành chính). Do đó, khi xử lý tình huống thực tế, cần tách bạch: Điều 245/Điều 129 giải quyết câu hỏi "ai quyết định", còn "khi nào được quyết định" phải tra cứu thêm các văn bản chuyên ngành.
Khoanh vùng trách nhiệm giữa Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ
Một điểm thực tiễn quan trọng là việc xác định đúng cơ quan có thẩm quyền quyết định ở mỗi cấp đơn vị hành chính để lập hồ sơ, đề án cho phù hợp. Quốc hội giữ thẩm quyền đối với cấp tỉnh; Ủy ban Thường vụ Quốc hội đối với cấp huyện, cấp xã; Chính phủ chỉ là cơ quan trình. Nhầm lẫn thẩm quyền có thể dẫn đến quy trình bị đình trệ, hồ sơ không được xem xét do sai địa chỉ.