Điều 243 Luật Đất đai 2024: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quy hoạch số 21/2017/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 15/2023/QH15, Luật số 16/2023/QH15 và Luật số 28/2023/QH15
Bình luận pháp lý Điều 243 Luật Quy hoạch về nội dung quy hoạch sử dụng đất quốc gia, đất quốc phòng, đất an ninh và thẩm quyền Chính phủ.
Điều 243. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quy hoạch số 21/2017/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 15/2023/QH15, Luật số 16/2023/QH15 và Luật số 28/2023/QH15
1. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 24 như sau:
“2. Quy hoạch sử dụng đất quốc gia bao gồm những nội dung chủ yếu sau đây:
a) Phân tích, đánh giá về các yếu tố, điều kiện tự nhiên, nguồn lực, bối cảnh trực tiếp tác động và thực trạng sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực;
b) Dự báo xu thế biến động của việc sử dụng đất;
c) Xác định các quan điểm và mục tiêu sử dụng đất trong thời kỳ mới;
d) Định hướng sử dụng đất quốc gia, vùng kinh tế - xã hội, tầm nhìn sử dụng đất đáp ứng nhu cầu sử dụng đất để phát triển kinh tế - xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh; bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu;
đ) Xác định các chỉ tiêu sử dụng đất đối với nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp; trong đó xác định diện tích một số loại đất gồm đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất là rừng tự nhiên, đất quốc phòng, đất an ninh;
e) Giải pháp, nguồn lực thực hiện quy hoạch.”.
2. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 25 như sau:
a) Sửa đổi đoạn mở đầu khoản 4 như sau:
“4. Quy hoạch sử dụng tài nguyên quốc gia, trừ quy hoạch sử dụng đất quốc phòng, quy hoạch sử dụng đất an ninh, bao gồm những nội dung sau đây:”.
b) Bổ sung khoản 4a vào sau khoản 4 như sau:
“4a. Quy hoạch sử dụng đất quốc phòng, quy hoạch sử dụng đất an ninh bao gồm những nội dung chủ yếu sau đây:
a) Định hướng sử dụng đất quốc phòng, đất an ninh;
b) Xác định nhu cầu sử dụng đất quốc phòng, đất an ninh trong kỳ quy hoạch sử dụng đất phù hợp với quy hoạch tổng thể quốc gia; nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia;
c) Phân kỳ quy hoạch sử dụng đất quốc phòng, đất an ninh cho từng kỳ kế hoạch 05 năm;
d) Giải pháp, nguồn lực thực hiện quy hoạch sử dụng đất quốc phòng, quy hoạch sử dụng đất an ninh.”.
c) Sửa đổi, bổ sung khoản 7 như sau:
“7. Chính phủ quy định chi tiết nội dung quy hoạch ngành quốc gia tại các khoản 3, 4, 4a, 5, và 6 Điều này; quy định việc tích hợp quy hoạch vào quy hoạch ngành quốc gia.
Việc lập, thẩm định, phê duyệt và điều chỉnh quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành để triển khai các nội dung quy định tại các khoản 3, 4, 4a, 5, và 6 Điều này thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan.”.
3. Sửa đổi, bổ sung điểm l khoản 2 Điều 27 như sau:
“l) Định hướng sử dụng đất đến từng đơn vị hành chính cấp huyện;”.
4. Bổ sung quy hoạch số thứ tự 1a vào trước số thứ tự 1 của Phụ lục II về Danh mục các quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành như sau:
1. Mục tiêu chính của sửa đổi Điều 24 và Điều 25
Điều 243 cho thấy định hướng hoàn thiện khung nội dung của quy hoạch sử dụng đất quốc gia, bảo đảm đồng bộ với hệ thống quy hoạch tổng thể quốc gia và các quy hoạch ngành, vùng. Việc liệt kê rõ các nhóm nội dung (phân tích thực trạng, dự báo, mục tiêu, định hướng, chỉ tiêu, giải pháp) nhằm chuẩn hóa cấu trúc hồ sơ quy hoạch, giúp cơ quan lập quy hoạch không bỏ sót các yếu tố cốt lõi.
Đối với đất quốc phòng, đất an ninh, việc tách riêng một khoản (khoản 4a Điều 25) thể hiện yêu cầu quản lý đặc thù, vừa bảo đảm bí mật, vừa phải gắn kết chặt chẽ với quy hoạch tổng thể quốc gia và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội. Nội dung quy hoạch đất quốc phòng, an ninh được thiết kế theo logic: định hướng – nhu cầu – phân kỳ – giải pháp, tạo cơ sở cho phân bổ đất đai phục vụ nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.
2. Những điểm trọng tâm cần nắm khi áp dụng
2.1. Nội dung tối thiểu của quy hoạch sử dụng đất quốc gia
Khoản 2 Điều 24 (đã được sửa đổi) xác định rõ các nhóm nội dung chủ yếu của quy hoạch sử dụng đất quốc gia. Trọng tâm gồm: (i) phân tích, đánh giá điều kiện tự nhiên, nguồn lực, bối cảnh và thực trạng sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực; (ii) dự báo xu thế biến động sử dụng đất; (iii) xác định quan điểm, mục tiêu sử dụng đất trong thời kỳ mới; (iv) định hướng sử dụng đất ở tầm quốc gia và vùng kinh tế – xã hội; (v) hệ thống chỉ tiêu sử dụng đất cho nhóm đất nông nghiệp, phi nông nghiệp, với một số loại đất bắt buộc phải xác định diện tích; (vi) giải pháp, nguồn lực thực hiện quy hoạch.
Trong thực tiễn, đây là căn cứ để đánh giá tính đầy đủ, hợp pháp của hồ sơ quy hoạch sử dụng đất quốc gia. Nếu một phương án quy hoạch thiếu các nội dung bắt buộc, nguy cơ bị yêu cầu chỉnh sửa, bổ sung trong giai đoạn thẩm định là rất cao.
2.2. Các loại đất bắt buộc phải xác định chỉ tiêu diện tích
Điểm đ khoản 2 Điều 24 sửa đổi yêu cầu quy hoạch sử dụng đất quốc gia phải xác định rõ diện tích một số loại đất đặc biệt: đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất là rừng tự nhiên, đất quốc phòng, đất an ninh. Đây là nhóm đất có ý nghĩa chiến lược về an ninh lương thực, bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học và quốc phòng – an ninh.
Khi áp dụng, cần hiểu rằng chỉ tiêu diện tích các loại đất này ở tầm quốc gia sẽ là khung tham chiếu cho quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, cấp huyện và cho các dự án chuyển mục đích sử dụng đất lớn. Việc điều chỉnh diện tích thực tế ở địa phương phải bảo đảm không phá vỡ các chỉ tiêu quốc gia, trừ trường hợp được cấp có thẩm quyền xem xét, điều chỉnh quy hoạch.
2.3. Nội dung riêng của quy hoạch sử dụng đất quốc phòng, đất an ninh
Khoản 4a Điều 25 được bổ sung để xây dựng một nhóm nội dung riêng cho quy hoạch sử dụng đất quốc phòng, đất an ninh, phân biệt với quy hoạch sử dụng tài nguyên quốc gia nói chung. Bốn nội dung lớn gồm: định hướng sử dụng đất quốc phòng, an ninh; xác định nhu cầu sử dụng đất trong kỳ quy hoạch phù hợp với quy hoạch tổng thể quốc gia, nhiệm vụ quốc phòng – an ninh và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội; phân kỳ cho từng kế hoạch 5 năm; giải pháp, nguồn lực thực hiện.
Điểm đáng lưu ý là việc “phân kỳ cho từng kỳ kế hoạch 05 năm” gắn chặt quy hoạch đất quốc phòng, an ninh với kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội từng giai đoạn. Điều này giúp bảo đảm tính linh hoạt, cho phép điều chỉnh nhu cầu, dự án quốc phòng, an ninh theo từng giai đoạn, nhưng vẫn nằm trong khung quy hoạch dài hạn.
3. Thẩm quyền của Chính phủ và quy hoạch kỹ thuật, chuyên ngành
Việc sửa đổi khoản 7 Điều 25 khẳng định Chính phủ là cơ quan quy định chi tiết nội dung quy hoạch ngành quốc gia tại các khoản 3, 4, 4a, 5, 6 và cơ chế tích hợp quy hoạch vào quy hoạch ngành quốc gia. Đồng thời, Điều 243 nêu rõ nguyên tắc: việc lập, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành để triển khai các nội dung nêu trên phải tuân thủ pháp luật chuyên ngành tương ứng.
Trong thực tiễn áp dụng, khi gặp tình huống “chồng chéo” giữa Luật Quy hoạch và luật chuyên ngành (ví dụ Luật Đất đai, Luật Lâm nghiệp, Luật Quốc phòng), nội dung sửa đổi này hướng tới cách xử lý là: Luật Quy hoạch quy định khung, còn quy trình chi tiết về hồ sơ, thẩm quyền, thủ tục thuộc luật chuyên ngành và văn bản dưới luật của Chính phủ, bộ quản lý ngành. Cơ quan thực hiện cần đọc song song Luật Quy hoạch, luật chuyên ngành và các nghị định hướng dẫn của Chính phủ.
4. Định hướng sử dụng đất đến từng đơn vị cấp huyện
Việc sửa đổi điểm l khoản 2 Điều 27 theo hướng bổ sung nội dung “định hướng sử dụng đất đến từng đơn vị hành chính cấp huyện” có ý nghĩa làm sâu thêm tính cụ thể của quy hoạch cấp cao hơn. Quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh không chỉ dừng ở định hướng theo tiểu vùng, khu chức năng mà phải thể hiện rõ cách phân bổ, định hướng sử dụng đất đến cấp huyện.
Trong áp dụng, đây là cầu nối giữa quy hoạch tổng thể, quy hoạch sử dụng đất quốc gia, vùng, tỉnh với quy hoạch sử dụng đất cấp huyện. Khi xây dựng quy hoạch hoặc điều chỉnh quy hoạch cấp huyện, cơ quan có thẩm quyền phải đối chiếu với định hướng sử dụng đất đã được xác định trong quy hoạch ở cấp cao hơn, tránh tình trạng quy hoạch cấp huyện “đi chệch” khỏi cấu trúc sử dụng đất đã được xác lập.
5. Những nhầm lẫn thường gặp và lưu ý khi áp dụng
Một nhầm lẫn phổ biến là xem quy hoạch sử dụng đất quốc gia như một bản phân bổ cứng nhắc cho từng địa phương. Trên thực tế, quy hoạch quốc gia đưa ra định hướng và chỉ tiêu khung; địa phương được quyền chi tiết hóa trong phạm vi các giới hạn này, miễn bảo đảm tuân thủ các chỉ tiêu về đất trồng lúa, rừng, đất quốc phòng, an ninh và các yêu cầu môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu.
Nhầm lẫn thứ hai là không tách bạch quy hoạch sử dụng đất quốc phòng, an ninh (đã có nội dung riêng tại khoản 4a Điều 25) với các quy hoạch sử dụng đất phục vụ mục tiêu kinh tế – xã hội thuần túy. Khi thẩm định dự án, cơ quan nhà nước cần nhận diện đúng dự án liên quan đến đất quốc phòng, an ninh, từ đó áp dụng quy trình thẩm định, phê duyệt tương ứng, bảo đảm yêu cầu bảo mật và lợi ích quốc gia.
Lưu ý cuối cùng là Điều 243 đặt nền tảng cho việc ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết của Chính phủ. Khi xét một tình huống cụ thể, không nên chỉ dựa vào nội dung Điều luật mà cần đối chiếu với nghị định hướng dẫn quy hoạch ngành quốc gia, nghị định hướng dẫn Luật Đất đai và các thông tư liên quan để bảo đảm tính hợp pháp và khả thi của phương án quy hoạch hoặc dự án sử dụng đất.