Điều 241 Luật Đất đai 2024: Trách nhiệm trong việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý vi phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai

Bình luận Điều 241 Luật Đất đai 2024 về trách nhiệm phát hiện, ngăn chặn, xử lý vi phạm đất đai của UBND và cơ quan quản lý.

Điều 241. Trách nhiệm trong việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý vi phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai

1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm sau đây:

a) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời những vi phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai tại địa phương theo thẩm quyền;

b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thường xuyên kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời theo thẩm quyền đối với các hành vi không đăng ký đất đai; lấn đất, chiếm đất, hủy hoại đất; sử dụng đất không đúng mục đích; chuyển, nhận quyền sử dụng đất không đúng pháp luật và hành vi vi phạm pháp luật đất đai khác của người sử dụng đất.

2. Người đứng đầu cơ quan có chức năng quản lý đất đai cấp tỉnh, cấp huyện có trách nhiệm kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn việc thi hành công vụ của cán bộ, công chức; giải quyết kịp thời, đúng pháp luật, theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của cá nhân, tổ chức và xử lý kịp thời những vi phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai tại địa phương theo thẩm quyền.

3. Công chức làm công tác địa chính cấp xã; công chức, viên chức thuộc cơ quan quản lý đất đai các cấp khi thi hành công vụ có trách nhiệm phát hiện và đề xuất xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về đất đai.

1. Mục tiêu điều chỉnh và ý nghĩa thực tiễn

Điều 241 không nhằm điều chỉnh hành vi vi phạm đất đai của người sử dụng đất, mà tập trung vào trách nhiệm của bộ máy quản lý nhà nước trong việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý các vi phạm đó. Trọng tâm là thiết lập một cơ chế “phòng vệ sớm”, buộc chính quyền cơ sở và cơ quan chuyên môn phải chủ động, thường xuyên kiểm tra, không chờ khiếu nại, tố cáo hoặc chỉ đạo cấp trên. Điều khoản này còn là căn cứ quan trọng để xem xét trách nhiệm công vụ khi vi phạm đất đai diễn ra kéo dài, gây hậu quả nhưng không được xử lý kịp thời.

2. Chuỗi trách nhiệm theo cấp và theo chức năng

2.1. Chủ tịch UBND các cấp

Khoản 1 Điều 241 phân tách nghĩa vụ theo cấp: Chủ tịch UBND cấp tỉnh, cấp huyện chịu trách nhiệm chung về phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời vi phạm đất đai trong phạm vi địa phương theo thẩm quyền; Chủ tịch UBND cấp xã gắn với nghĩa vụ “thường xuyên kiểm tra” và xử lý trực tiếp các hành vi vi phạm cụ thể tại cơ sở. Cụm từ “thường xuyên kiểm tra” đặt cấp xã vào vị trí “trạm gác đầu tiên”, do cấp xã gần dân, nắm sát hiện trạng sử dụng đất; nếu cấp xã buông lỏng, các cấp trên rất khó kiểm soát kịp thời.

2.2. Cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh, huyện

Khoản 2 Điều 241 nhấn mạnh vai trò của người đứng đầu cơ quan quản lý đất đai (thường là Sở Tài nguyên và Môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường). Trách nhiệm không chỉ là xử lý vi phạm khi phát hiện mà còn là kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn việc thi hành công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức. Đồng thời, họ phải giải quyết kịp thời, đúng pháp luật khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về đất đai hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết, qua đó tạo một kênh kiểm soát độc lập với cấp xã. Đây là mắt xích trung gian quan trọng, tránh tình trạng vi phạm bị “chôn” ở cơ sở.

2.3. Công chức địa chính và công chức, viên chức ngành đất đai

Khoản 3 quy định rõ vai trò của công chức địa chính cấp xã và công chức, viên chức thuộc cơ quan quản lý đất đai các cấp là người “phát hiện và đề xuất xử lý kịp thời” vi phạm. Họ không có toàn bộ thẩm quyền quyết định xử phạt trong mọi trường hợp, nhưng có nghĩa vụ chuyên môn: ghi nhận, lập hồ sơ, tham mưu, đề xuất biện pháp xử lý đúng người, đúng hành vi, đúng thẩm quyền. Nếu không phát hiện, không tham mưu, hoặc tham mưu sai dẫn đến bỏ lọt vi phạm hoặc xử lý trái pháp luật, trách nhiệm công vụ có thể bị xem xét căn cứ các quy định về kỷ luật cán bộ, công chức.

3. Điều kiện “kích hoạt” trách nhiệm theo Điều 241

Để áp dụng Điều 241 trong đánh giá trách nhiệm, cần nhận diện một số yếu tố: (i) Có hành vi vi phạm pháp luật đất đai thuộc loại mà điều luật nhắc đến (không đăng ký đất đai; lấn, chiếm, hủy hoại đất; sử dụng sai mục đích; chuyển, nhận quyền sử dụng đất trái pháp luật…); (ii) Chủ thể có thẩm quyền quản lý ở khu vực đó hoặc cơ quan chuyên môn, công chức địa chính có điều kiện biết hoặc phải biết qua kiểm tra, giám sát, giải quyết hồ sơ hoặc khiếu nại, tố cáo; (iii) Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ việc phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời theo thẩm quyền. Khi những điều kiện này hội tụ, căn cứ Điều 241 sẽ được dùng làm nền tảng đánh giá trách nhiệm hành chính, kỷ luật, thậm chí trách nhiệm khác nếu gây hậu quả nghiêm trọng.

4. Một số cách hiểu sai cần tránh

Thứ nhất, không nên hiểu Điều 241 là căn cứ trực tiếp để xử phạt người sử dụng đất vi phạm; điều luật chỉ quy định trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền trong quản lý nhà nước. Việc xử phạt người sử dụng đất căn cứ các quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, không căn cứ Điều 241. Thứ hai, không thể dùng Điều 241 để đòi bồi thường thiệt hại dân sự trực tiếp từ Chủ tịch UBND hoặc công chức khi có vi phạm đất đai; yêu cầu bồi thường phải đi theo cơ chế pháp luật về bồi thường của Nhà nước, trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng và các quy định chuyên ngành có liên quan.

Thứ ba, có nhầm lẫn cho rằng trách nhiệm thuộc về “UBND” nói chung, trong khi Điều 241 nhấn mạnh trách nhiệm cá nhân của Chủ tịch UBND và người đứng đầu cơ quan quản lý đất đai. Cách thiết kế này giúp xác định rõ người chịu trách nhiệm chính khi xem xét xử lý kỷ luật, đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ hoặc xem xét trách nhiệm trong các vụ việc vi phạm kéo dài, phức tạp.

5. Lưu ý khi áp dụng trong tình huống cụ thể

Khi khiếu nại hoặc phản ánh về tình trạng lấn, chiếm, sử dụng đất sai mục đích kéo dài mà không được xử lý, người dân nên xác định đúng cấp có trách nhiệm trực tiếp theo Điều 241 để gửi kiến nghị: thường là Chủ tịch UBND cấp xã nơi có đất, sau đó đến Chủ tịch UBND cấp huyện, người đứng đầu cơ quan tài nguyên môi trường. Trong quá trình thanh tra, kiểm tra, Điều 241 là căn cứ để đặt câu hỏi: đã có kiểm tra “thường xuyên” chưa, đã có biện pháp “ngăn chặn” hay mới chỉ xử lý hậu quả, đã giải quyết kịp thời khiếu nại, tố cáo hay để kéo dài.

Ở góc độ nội bộ cơ quan nhà nước, Điều 241 cần được lồng vào quy chế phối hợp giữa UBND các cấp với Sở/Phòng Tài nguyên và Môi trường, quy định rõ quy trình phát hiện – báo cáo – đề xuất – xử lý, cũng như chế độ kiểm tra, giám sát công chức địa chính. Làm rõ trách nhiệm và quy trình không chỉ giúp nâng cao hiệu lực quản lý đất đai, mà còn giảm rủi ro tranh chấp, khiếu nại phức tạp và nguy cơ cán bộ, công chức bị xử lý do buông lỏng quản lý.

Điều 241 Luật Đất đai 2024 điều chỉnh hành vi của ai là chính?
Điều 241 chủ yếu điều chỉnh trách nhiệm của Chủ tịch UBND các cấp, người đứng đầu cơ quan quản lý đất đai và công chức địa chính, không điều chỉnh trực tiếp người sử dụng đất.
Có thể dùng Điều 241 để xử phạt người sử dụng đất vi phạm hay không?
Không. Điều 241 chỉ quy định trách nhiệm quản lý nhà nước. Xử phạt người sử dụng đất vi phạm căn cứ các quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
Chủ tịch UBND cấp xã có nghĩa vụ gì nổi bật theo Điều 241?
Chủ tịch UBND cấp xã phải thường xuyên kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm đất đai phổ biến như lấn, chiếm, sử dụng sai mục đích tại địa bàn.
Công chức địa chính xã có trách nhiệm gì khi phát hiện vi phạm đất đai?
Công chức địa chính có trách nhiệm phát hiện, lập hồ sơ, tham mưu, đề xuất xử lý kịp thời vi phạm đất đai cho Chủ tịch UBND và cơ quan quản lý đất đai có thẩm quyền.
Điều 241 có là căn cứ đòi bồi thường dân sự trực tiếp từ Chủ tịch UBND không?
Không. Điều 241 chỉ làm rõ trách nhiệm công vụ. Việc yêu cầu bồi thường phải tuân theo pháp luật về bồi thường của Nhà nước và các quy định về trách nhiệm bồi thường dân sự.
Mục lục văn bản