Điều 217 Luật Đất đai 2024: Đất do cơ quan, tổ chức của Nhà nước quản lý
Bình luận Điều 217 Luật Đất đai 2024 về đất do cơ quan, tổ chức Nhà nước quản lý, trọng tâm áp dụng và lưu ý thực tiễn.
Điều 217. Đất do cơ quan, tổ chức của Nhà nước quản lý
1. Đất do cơ quan, tổ chức của Nhà nước quản lý là đất chưa giao, chưa cho thuê hoặc đã được giao đất để quản lý, bao gồm:
a) Đất sử dụng vào mục đích công cộng;
b) Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối, ao, hồ, đầm, phá;
c) Đất nghĩa trang, nhà tang lễ, cơ sở hỏa táng; đất cơ sở lưu giữ tro cốt;
d) Đất có mặt nước chuyên dùng;
đ) Đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất;
e) Đất do Nhà nước thu hồi và giao cho tổ chức phát triển quỹ đất quản lý;
g) Đất do Nhà nước thu hồi và giao Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý trong các trường hợp tại điểm đ khoản 1 và khoản 3 Điều 82; khoản 2 Điều 82 tại khu vực nông thôn; khoản 5 Điều 86; điểm e khoản 2 Điều 181 của Luật này;
h) Đất giao lại, chuyển quyền sử dụng đất của tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao khi không có nhu cầu sử dụng đất thực hiện trên cơ sở điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế và quy định của pháp luật có liên quan;
i) Đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn;
k) Đất chưa sử dụng.
2. Cơ quan, tổ chức của Nhà nước được giao quản lý quỹ đất quy định tại khoản 1 Điều này có trách nhiệm quản lý, bảo toàn diện tích đất được giao quản lý; việc sử dụng quỹ đất nêu trên thực hiện theo chế độ sử dụng đất tương ứng theo quy định của Luật này.
Trọng tâm của Điều 217
Điều 217 không nhằm thiết lập một chế độ sử dụng đất riêng biệt, mà trước hết là khoanh vùng đúng quỹ đất công do Nhà nước quản lý. Đây là nhóm đất chưa giao, chưa cho thuê hoặc đã giao cho chủ thể nhà nước để quản lý, nên trọng tâm của điều luật là quản lý chặt hiện trạng, ngăn lấn chiếm, sử dụng sai mục đích và làm thất thoát tài sản công.
Điểm cần nắm là Điều 217 liệt kê theo tính chất pháp lý và hiện trạng quản lý, chứ không theo hình thức sở hữu thông thường. Vì vậy, chỉ cần đất thuộc một trong các nhóm tại khoản 1 thì đã rơi vào cơ chế quản lý này, dù trên thực tế đất có thể là đất công cộng, đất mặt nước, đất rừng, đất chưa sử dụng hoặc đất được thu hồi giao cho cơ quan có thẩm quyền quản lý.
Ý nghĩa lập pháp
Quy định này thể hiện chủ trương quản lý thống nhất quỹ đất công, tránh tình trạng “đất không chủ” trong thực tế. Nhà nước không chỉ thu hồi hoặc nắm giữ quyền quản lý trên giấy tờ, mà còn đặt ra nghĩa vụ bảo toàn diện tích được giao quản lý để bảo đảm đất được theo dõi, thống kê và sử dụng đúng chế độ.
Điều luật cũng cho thấy một nguyên tắc quan trọng: đất do cơ quan, tổ chức Nhà nước quản lý không đồng nghĩa được tự do khai thác. Việc sử dụng phải tuân theo chế độ sử dụng đất tương ứng của Luật Đất đai, tức là loại đất nào thì bị ràng buộc bởi quy định pháp lý của loại đất đó.
Điều kiện để áp dụng
Muốn áp dụng Điều 217, trước hết phải xác định rõ đất thuộc một trong các nhóm liệt kê tại khoản 1. Sau đó cần xác định chủ thể đang được giao quản lý là cơ quan, tổ chức nào của Nhà nước, và việc quản lý đó có đúng thẩm quyền, đúng hồ sơ, đúng phạm vi hay không.
Trong thực tiễn, yếu tố then chốt là tình trạng pháp lý của thửa đất: đã giao chưa, đã cho thuê chưa, hay đang thuộc diện Nhà nước thu hồi, giao quản lý. Nếu chưa làm rõ tình trạng này mà đã xử lý như đất đang sử dụng ổn định của tổ chức, cá nhân thì dễ dẫn đến sai phạm trong giao đất, cho thuê đất, bồi thường hoặc xử lý lấn chiếm.
Những nhầm lẫn thường gặp
Một nhầm lẫn phổ biến là coi toàn bộ đất do Nhà nước quản lý đều có thể đưa vào khai thác như đất dự trữ thông thường. Thực tế, nhiều loại đất trong khoản 1 vẫn chịu chế độ quản lý rất chặt, như đất rừng, đất mặt nước, đất công cộng hoặc đất nghĩa trang; việc sử dụng phải đúng mục đích và đúng cơ chế pháp luật chuyên ngành.
Nhầm lẫn khác là cho rằng đất chưa sử dụng thì “không cần quản lý”. Điều 217 xác định ngược lại: đất chưa sử dụng vẫn là một bộ phận của quỹ đất do Nhà nước quản lý và phải được bảo toàn, theo dõi, tránh bị lấn chiếm, tự ý chuyển mục đích hoặc sử dụng trái phép.
Lưu ý khi áp dụng thực tế
Khi xử lý một khu đất cụ thể, cần kiểm tra đồng thời nguồn gốc đất, tình trạng thu hồi, cơ quan được giao quản lý và hồ sơ địa chính. Đây là điều kiện quan trọng để phân biệt giữa đất công do Nhà nước quản lý với đất đã giao cho người sử dụng đất theo cơ chế thông thường.
Đối với các địa phương, nhất là cấp xã, quy định này đặt ra trách nhiệm quản lý thực chất chứ không chỉ quản lý hình thức. Nếu buông lỏng quản lý, để phát sinh lấn chiếm, xây dựng trái phép hoặc sử dụng sai mục đích trên quỹ đất công, trách nhiệm không chỉ là trách nhiệm hành chính mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực quản lý đất đai.