Điều 213 Luật Đất đai 2024: Đất tôn giáo
Phân tích Điều 213 Luật Đất đai 2024 về đất tôn giáo, giao đất, thuê đất, hạn mức và thu hồi.
Điều 213. Đất tôn giáo
1. Đất tôn giáo bao gồm đất xây dựng cơ sở tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc và công trình tôn giáo hợp pháp khác.
2. Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất đối với đất xây dựng cơ sở tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc.
3. Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hằng năm đối với tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc sử dụng đất không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
4. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ nhu cầu thực tế về hoạt động tôn giáo và khả năng quỹ đất của địa phương để quy định hạn mức và quyết định diện tích đất giao cho tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trên địa bàn tỉnh.
5. Việc sử dụng đất tôn giáo kết hợp với thương mại, dịch vụ phải bảo đảm các yêu cầu quy định tại khoản 2 Điều 218 của Luật này.
6. Trường hợp Nhà nước thu hồi đất tôn giáo quy định tại khoản 2 Điều này thì được bố trí địa điểm mới phù hợp với quỹ đất của địa phương và sinh hoạt tôn giáo của các tín đồ.
Trọng tâm điều chỉnh
Điều 213 đặt ra một cơ chế quản lý riêng đối với đất tôn giáo, xuất phát từ tính đặc thù của chủ thể sử dụng và mục đích sử dụng đất. Điểm mấu chốt không nằm ở việc “ưu đãi tuyệt đối”, mà ở chỗ Nhà nước chỉ bảo đảm quỹ đất phục vụ sinh hoạt tôn giáo hợp pháp trong phạm vi cần thiết, đồng thời ngăn ngừa việc lợi dụng danh nghĩa tôn giáo để sử dụng đất sai mục đích.
Vì vậy, khi áp dụng điều này, cần xác định đúng ba lớp vấn đề: chủ thể là tổ chức tôn giáo hoặc tổ chức tôn giáo trực thuộc; mục đích sử dụng có thuộc nhóm đất tôn giáo được pháp luật thừa nhận hay không; và cơ chế Nhà nước giao đất hay cho thuê đất tương ứng với từng trường hợp.
Cách phân biệt các trường hợp áp dụng
Khoản 2 và khoản 3 là phần dễ nhầm lẫn nhất. Đất dùng để xây dựng cơ sở tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc thì được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất; còn các trường hợp khác của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc thì áp dụng hình thức thuê đất, trả tiền thuê đất hằng năm. Đây là ranh giới pháp lý quan trọng, quyết định trực tiếp nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất.
Không phải mọi thửa đất do tổ chức tôn giáo quản lý đều mặc nhiên thuộc diện giao không thu tiền. Muốn được hưởng cơ chế tại khoản 2 Điều này, đất phải gắn với đúng mục đích nêu trong điều luật và phù hợp quyết định giao đất của cơ quan có thẩm quyền.
Vai trò của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Khoản 4 trao thẩm quyền cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định hạn mức và quyết định diện tích giao đất trên địa bàn. Quy định này thể hiện nguyên tắc quản lý theo điều kiện thực tế của từng địa phương, thay vì áp dụng một mức cứng trên toàn quốc. Khi xem xét hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền phải cân đối giữa nhu cầu hoạt động tôn giáo và quỹ đất địa phương, tránh cả hai thái cực: cấp quá rộng hoặc hạn chế không có căn cứ.
Do đó, trong thực tiễn, việc được giao đất không chỉ phụ thuộc vào tư cách tôn giáo của tổ chức mà còn phụ thuộc vào khả năng quỹ đất, nhu cầu thực tế và quyết định quản lý của địa phương. Đây là yếu tố thường bị bỏ qua khi đánh giá tính hợp pháp của việc giao đất.
Sử dụng kết hợp thương mại, dịch vụ
Khoản 5 là điểm chốt để ngăn việc “thương mại hóa” đất tôn giáo. Khi đất tôn giáo được sử dụng kết hợp với thương mại, dịch vụ, việc sử dụng phải đáp ứng các yêu cầu tại khoản 2 Điều 218 Luật Đất đai 2024. Nói cách khác, hoạt động phụ trợ chỉ được chấp nhận nếu không làm biến đổi bản chất tôn giáo của khu đất và không làm sai lệch mục đích sử dụng đất đã được xác lập.
Hiểu sai phổ biến là cho rằng cứ gắn với cơ sở tôn giáo thì có thể triển khai mọi hoạt động dịch vụ. Thực tế, phần sử dụng kết hợp luôn bị ràng buộc bởi điều kiện pháp luật riêng, và nếu vượt quá giới hạn thì có thể bị xem là sử dụng đất không đúng mục đích.
Thu hồi đất và bảo đảm sinh hoạt tôn giáo
Khoản 6 thể hiện nguyên tắc bảo đảm tính liên tục của đời sống tôn giáo khi Nhà nước thu hồi đất. Nếu thu hồi đất tôn giáo thuộc trường hợp khoản 2, cơ quan có thẩm quyền phải bố trí địa điểm mới phù hợp với quỹ đất địa phương và sinh hoạt tôn giáo của tín đồ. Đây là cơ chế cân bằng giữa yêu cầu quản lý đất đai và quyền sinh hoạt tôn giáo hợp pháp.
Điểm cần lưu ý là quy định này không đồng nghĩa với việc mọi trường hợp thu hồi đều phải bồi hoàn bằng một khu đất tương đương về diện tích hoặc giá trị. Yếu tố quyết định là tính phù hợp với điều kiện địa phương và nhu cầu sinh hoạt tôn giáo thực tế.
Lưu ý khi áp dụng thực tiễn
Khi xử lý hồ sơ đất tôn giáo, cần kiểm tra đầy đủ: tư cách pháp lý của tổ chức sử dụng đất, nguồn gốc đất, mục đích sử dụng, hình thức Nhà nước giao hoặc cho thuê, và giới hạn diện tích do địa phương quy định. Thiếu một trong các yếu tố này, việc áp dụng Điều 213 rất dễ sai từ khâu xác định loại đất đến nghĩa vụ tài chính và phương án quản lý sau này.
Điều luật này không chỉ là quy định về “quyền được có đất”, mà còn là cơ chế quản trị để bảo đảm đất tôn giáo phục vụ đúng chức năng tôn giáo, không biến thành đất thương mại trá hình. Vì vậy, khi bình luận hoặc vận dụng, trọng tâm luôn phải là đúng chủ thể, đúng mục đích, đúng hình thức sử dụng và đúng giới hạn địa phương.