Điều 201 Luật Đất đai 2024: Sử dụng đất quốc phòng, an ninh kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế
Bình luận Điều 201 Luật Đất đai 2024 về sử dụng đất quốc phòng, an ninh kết hợp lao động sản xuất, xây dựng kinh tế và các giới hạn pháp lý.
Điều 201. Sử dụng đất quốc phòng, an ninh kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế
1. Việc sử dụng đất quốc phòng, an ninh kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế được áp dụng cho các đối tượng sau đây:
a) Đơn vị quân đội, đơn vị công an, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân;
b) Doanh nghiệp nhà nước do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an được giao quản lý.
2. Đối với đất quốc phòng, an ninh hiện do các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này quản lý, sử dụng khi kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế gắn với nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, an ninh thì phải lập phương án sử dụng đất trình Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an xem xét, phê duyệt và phải nộp tiền sử dụng đất hằng năm.
Trường hợp sử dụng đất quốc phòng, an ninh kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế để tổ chức giáo dục; lao động, cải tạo, hướng nghiệp, dạy nghề cho phạm nhân; rèn luyện, tăng gia sản xuất cải thiện đời sống; dịch vụ hỗ trợ hậu cần - kỹ thuật thì không phải nộp tiền sử dụng đất.
3. Quyền và nghĩa vụ của đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này khi sử dụng đất quốc phòng, an ninh kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế được quy định như sau:
a) Được tổ chức sản xuất, kinh doanh theo phương án đã được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an phê duyệt;
b) Được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất và các lợi ích khác theo quy định của pháp luật;
c) Không được bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất khi chấm dứt phương án sử dụng đất quốc phòng, an ninh kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế để phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, an ninh;
d) Không được chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê quyền sử dụng đất;
đ) Không được thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất;
e) Không được tự ý chuyển mục đích sử dụng đất;
g) Đối tượng quy định tại điểm a khoản 1 Điều này không được chuyển nhượng, cho thuê, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng tài sản gắn liền với đất;
h) Đối tượng quy định tại điểm b khoản 1 Điều này được cho thuê, thế chấp, góp vốn bằng tài sản gắn liền với đất theo phương án được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an phê duyệt; trường hợp mua, bán tài sản gắn liền với đất, xử lý tài sản thế chấp, tài sản góp vốn thì chỉ được thực hiện trong nội bộ giữa các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này theo phương án được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an phê duyệt;
i) Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính theo quy định.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
1. Mục tiêu quản lý: kinh tế chỉ là chức năng phụ, bảo đảm an ninh – quốc phòng là chính
Điều 201 xác lập nguyên tắc đất quốc phòng, an ninh luôn phục vụ nhiệm vụ quân sự, an ninh là mục đích chính, hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế chỉ mang tính kết hợp, hỗ trợ. Việc cho phép kết hợp kinh tế nhằm tận dụng nguồn lực đất đai, cải thiện đời sống, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh nhưng đồng thời ngăn chặn xu hướng thương mại hóa đất quốc phòng, an ninh như đất sản xuất kinh doanh thông thường. Quy định yêu cầu phương án phải gắn với nhiệm vụ quân sự, an ninh và do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an phê duyệt là cơ chế kiểm soát quan trọng.
2. Phạm vi chủ thể được phép kết hợp sử dụng
Điều luật giới hạn chủ thể rất chặt: chỉ đơn vị quân đội, công an, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và doanh nghiệp nhà nước do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quản lý. Việc giới hạn này phản ánh yêu cầu bảo mật, bảo đảm an ninh đối với đất quốc phòng, an ninh, không mở cửa cho khu vực tư nhân trực tiếp tham gia khai thác kinh tế trên loại đất này. Khi áp dụng, cần kiểm tra kỹ tư cách pháp lý của đơn vị tham gia, tránh tình trạng "mượn danh" doanh nghiệp quốc phòng – an ninh để triển khai dự án kinh tế không đúng bản chất.
3. Điều kiện kích hoạt: phương án sử dụng đất được phê duyệt và nghĩa vụ tài chính
Muốn kết hợp sử dụng đất quốc phòng, an ninh cho hoạt động kinh tế, đơn vị quản lý bắt buộc phải lập phương án sử dụng đất trình Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hoặc Bộ trưởng Bộ Công an phê duyệt. Phương án là điều kiện pháp lý trung tâm, thể hiện rõ mục đích, phạm vi, hình thức hoạt động, cơ chế sử dụng tài sản, trách nhiệm bảo đảm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Ngoài ra, việc nộp tiền sử dụng đất hằng năm là cơ chế bảo đảm tính minh bạch, tránh việc sử dụng đất quốc phòng, an ninh như một "ưu đãi" kinh tế không kiểm soát.
3.1. Các trường hợp miễn nộp tiền sử dụng đất
Điều luật miễn tiền sử dụng đất cho một số hoạt động mang tính phục vụ nội bộ, gắn chặt với nhiệm vụ giáo dục, cải tạo, tăng gia, hậu cần – kỹ thuật như: tổ chức giáo dục, lao động cải tạo, hướng nghiệp, dạy nghề cho phạm nhân; rèn luyện, tăng gia sản xuất cải thiện đời sống; dịch vụ hỗ trợ hậu cần – kỹ thuật. Điểm chung là các hoạt động này không hướng tới lợi nhuận thương mại thuần túy, mà là hoạt động phục vụ nhiệm vụ chính trị, quản lý, huấn luyện, hậu cần của lực lượng vũ trang và cơ quan công an.
4. Quyền và nghĩa vụ: phạm vi quyền rất hạn chế, không hình thành “quyền sử dụng đất kinh doanh”
Điều 201 chỉ cho phép các chủ thể được tổ chức sản xuất, kinh doanh theo phương án đã được phê duyệt và hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất, các lợi ích khác theo pháp luật. Tuy nhiên, quyền đối với đất bị thu hẹp đáng kể: không được bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất khi chấm dứt phương án để phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, an ninh, không được chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, cũng không được tự ý chuyển mục đích sử dụng đất. Điều này cho thấy quan hệ pháp lý ở đây không phải quan hệ sử dụng đất kinh doanh ổn định, lâu dài như các loại đất khác, mà là cơ chế sử dụng có thời hạn, phụ thuộc nhu cầu nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.
4.1. Phân biệt quyền đối với tài sản gắn liền với đất
Điều luật phân biệt giữa nhóm đơn vị quân đội, công an, đơn vị sự nghiệp công lập (điểm a khoản 1) và doanh nghiệp nhà nước do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quản lý (điểm b khoản 1). Nhóm thứ nhất không được chuyển nhượng, cho thuê, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng tài sản gắn liền với đất, nhằm tránh tư nhân hóa tài sản trong khu vực đơn vị vũ trang. Nhóm doanh nghiệp nhà nước được cho thuê, thế chấp, góp vốn bằng tài sản gắn liền với đất theo phương án được phê duyệt, nhưng việc mua bán, xử lý tài sản thế chấp, tài sản góp vốn chỉ được thực hiện nội bộ giữa các chủ thể quy định tại khoản 1, không mở ra giao dịch với bên thứ ba ngoài hệ thống quốc phòng, an ninh. Đây là hàng rào pháp lý hạn chế luồng tài sản gắn với đất quốc phòng, an ninh ra ngoài khu vực kiểm soát.
5. Những cách hiểu sai thường gặp
Một nhầm lẫn phổ biến là xem đất quốc phòng, an ninh khi kết hợp kinh tế như một loại đất sản xuất kinh doanh thông thường, từ đó dựng kỳ vọng về quyền chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, góp vốn như đối với các loại đất khác. Điều 201 cho thấy điều này là sai, vì quyền đối với đất và tài sản gắn liền với đất bị hạn chế chặt chẽ, luôn có thể bị chấm dứt không bồi thường nhằm phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Nhầm lẫn thứ hai là coi hoạt động kết hợp kinh tế là mục đích chính, trong khi pháp luật đặt nhiệm vụ quân sự, an ninh lên trước, kinh tế chỉ là phương thức hỗ trợ. Khi tư vấn hoặc ký kết hợp đồng liên quan đến tài sản trên đất quốc phòng, an ninh, cần làm rõ nền tảng pháp lý này để tránh tranh chấp.
6. Lưu ý khi áp dụng vào tình huống cụ thể
Trong thực tiễn, bất kỳ dự án, hợp đồng liên quan đến khai thác, sử dụng đất quốc phòng, an ninh kết hợp kinh tế đều cần kiểm tra: (i) chủ thể có thuộc phạm vi khoản 1 Điều 201; (ii) có phương án sử dụng đất được Bộ trưởng có thẩm quyền phê duyệt; (iii) hoạt động dự kiến có thuộc nhóm miễn nộp tiền sử dụng đất hay không; (iv) cơ chế sử dụng, giao dịch tài sản gắn liền với đất có đúng giới hạn của điều luật. Các bên liên quan, đặc biệt là đối tác dân sự, doanh nghiệp ngoài khu vực quốc phòng, an ninh, cần nhận thức rằng họ không thể có quyền sử dụng đất quốc phòng, an ninh theo nghĩa đầy đủ, mà chỉ có thể tham gia ở mức được phương án, pháp luật chuyên ngành cho phép. Cuối cùng, cần theo dõi nghị định hướng dẫn của Chính phủ quy định chi tiết Điều 201 để nắm rõ trình tự, thủ tục, tiêu chí phê duyệt phương án và cách xác định nghĩa vụ tài chính.