Điều 19 Luật Đất đai 2024: Vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong quản lý và sử dụng đất đai
Bình luận Điều 19 Luật Đất đai 2024 về vai trò Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong quản lý, sử dụng đất và bảo vệ quyền lợi người dân.
Điều 19. Vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong quản lý và sử dụng đất đai
1. Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia xây dựng pháp luật, thực hiện phản biện xã hội đối với dự thảo văn bản pháp luật về đất đai, dự thảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc gia, dự án có sử dụng đất do Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ quyết định, chấp thuận chủ trương đầu tư.
2. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp có trách nhiệm sau đây:
a) Tham gia xây dựng pháp luật; thực hiện phản biện xã hội đối với dự thảo văn bản pháp luật về đất đai, dự thảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cùng cấp, dự án có sử dụng đất do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định, chấp thuận chủ trương đầu tư;
b) Tham gia ý kiến về trường hợp thu hồi đất, phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, trường hợp cưỡng chế khi thực hiện thu hồi đất;
c) Tham gia ý kiến, giám sát quá trình xây dựng bảng giá đất và thực hiện bảng giá đất;
d) Tham gia hòa giải tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật;
đ) Giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về thu hồi đất, trưng dụng đất; về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.
3. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận có trách nhiệm trong việc tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về đất đai tới Nhân dân, vận động Nhân dân thực hiện và chấp hành tốt chính sách, pháp luật về đất đai.
1. Mục đích và ý nghĩa của Điều 19
Điều 19 nhằm đặt Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vào vị trí cầu nối giữa Nhà nước và Nhân dân trong lĩnh vực đất đai, vốn rất nhạy cảm và dễ phát sinh khiếu kiện. Quy định này không tạo thêm quyền quản lý nhà nước về đất đai cho Mặt trận, mà xác lập cơ chế giám sát, phản biện và tham gia ý kiến để bảo đảm chính sách, pháp luật đất đai được xây dựng và thực thi phù hợp với lợi ích chính đáng của người sử dụng đất. Qua đó tăng cường minh bạch, hạn chế lạm quyền, xung đột và khiếu nại, tố cáo kéo dài.
2. Các trọng tâm cần nắm khi áp dụng Điều 19
2.1. Mặt trận ở cấp Trung ương
Khoản 1 tập trung vào vai trò của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong xây dựng pháp luật và phản biện xã hội đối với các dự thảo văn bản pháp luật về đất đai, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc gia và các dự án sử dụng đất thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ. Đây là tầng chính sách vĩ mô, nơi Mặt trận đóng vai trò định hướng và cảnh báo rủi ro về quyền, lợi ích người dân ngay từ khâu hình thành quy phạm và phê duyệt dự án lớn.
2.2. Mặt trận các cấp địa phương
Khoản 2 mở rộng vai trò của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trong các hoạt động cụ thể gắn với quyền, lợi ích trực tiếp của người sử dụng đất ở địa phương. Điểm a nhấn mạnh trách nhiệm phản biện xã hội đối với văn bản pháp luật, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và dự án có sử dụng đất do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định chủ trương đầu tư, tạo cơ chế kiểm soát từ cộng đồng đối với các quyết định sử dụng đất công.
Điểm b và c ghi nhận vai trò Mặt trận trong tham gia ý kiến về thu hồi đất, phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, cưỡng chế thu hồi đất, và trong giám sát xây dựng, thực hiện bảng giá đất. Đây là các khâu thường gây bức xúc, nên việc có tiếng nói độc lập, đại diện cho Nhân dân là yếu tố quan trọng để đảm bảo công bằng, hạn chế khiếu kiện.
Điểm d và đ khẳng định chức năng hòa giải và giám sát đối với tranh chấp đất đai, việc thực hiện chính sách thu hồi, trưng dụng, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất. Đây là các hoạt động gắn trực tiếp với từng vụ việc cụ thể, nơi Mặt trận vừa là bên hòa giải, vừa là chủ thể giám sát nhằm phát hiện bất cập, sai phạm.
2.3. Trách nhiệm tuyên truyền, vận động Nhân dân
Khoản 3 xác định trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong tuyên truyền, phổ biến và vận động chấp hành pháp luật đất đai. Nội dung này giúp người dân hiểu đúng quy định, quyền và nghĩa vụ của mình, từ đó giảm tình trạng vi phạm do thiếu thông tin và tăng mức độ hợp tác với cơ quan nhà nước khi thực hiện các dự án, quy hoạch, thu hồi đất.
3. Điều kiện để “kích hoạt” áp dụng Điều 19
Điều 19 không phải là điều khoản trao quyền xử lý một vụ việc cụ thể, mà là cơ sở pháp lý khung cho toàn bộ hoạt động tham gia xây dựng pháp luật, phản biện xã hội, giám sát, hòa giải, tuyên truyền của Mặt trận trong lĩnh vực đất đai. Việc “kích hoạt” được thực hiện thông qua các quy trình, chương trình công tác của Mặt trận (ví dụ: tổ chức hội nghị phản biện, giám sát chuyên đề, tham gia tổ công tác hòa giải tranh chấp đất đai, lấy ý kiến về phương án bồi thường…).
Trong từng vụ việc cụ thể, cơ quan nhà nước, nhà đầu tư, hoặc người dân thường căn cứ Điều 19 và các văn bản hướng dẫn để mời Mặt trận tham gia hoặc đề nghị Mặt trận giám sát, phản biện, hòa giải. Điều luật tạo cơ sở để Mặt trận có thẩm quyền chính trị – pháp lý rõ ràng khi thực hiện các chức năng này.
4. Những cách hiểu sai, nhầm lẫn thường gặp
4.1. Nhầm Mặt trận là cơ quan quản lý nhà nước về đất đai
Một nhầm lẫn phổ biến là cho rằng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có quyền trực tiếp quyết định giao đất, thu hồi đất, cấp Giấy chứng nhận hoặc phê duyệt dự án. Điều 19 chỉ giao trách nhiệm tham gia xây dựng pháp luật, phản biện, giám sát, hòa giải và tham gia ý kiến, hoàn toàn không thay đổi thẩm quyền quản lý nhà nước về đất đai vốn thuộc về cơ quan hành chính, cơ quan tư pháp theo Luật Đất đai và các luật có liên quan.
4.2. Nhầm giữa giám sát, phản biện với quyền hủy bỏ, dừng dự án
Một nhầm lẫn khác là cho rằng sau giám sát hoặc phản biện, Mặt trận có quyền đơn phương dừng dự án hoặc hủy quyết định thu hồi đất. Thực tế, Mặt trận không có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai, mà chỉ đưa ra ý kiến, kiến nghị, báo cáo kết quả giám sát để cơ quan có thẩm quyền xem xét, điều chỉnh. Vì vậy, người dân cần phân biệt rõ giữa quyền phản biện, kiến nghị và quyền quyết định của cơ quan nhà nước.
4.3. Nhầm Mặt trận là “đại diện pháp lý” trong mọi tranh chấp đất đai
Điểm d khoản 2 Điều 19 quy định Mặt trận tham gia hòa giải tranh chấp đất đai, nhưng không có nghĩa Mặt trận là đại diện tố tụng của mỗi bên trong vụ án đất đai. Mặt trận chỉ đóng vai trò bên thứ ba hỗ trợ hòa giải, thúc đẩy đối thoại, bảo đảm thông tin khách quan, không thay thế luật sư hoặc người đại diện theo ủy quyền của đương sự.
5. Lưu ý quan trọng khi áp dụng trong thực tế
Thứ nhất, khi triển khai các dự án có thu hồi đất, cơ quan nhà nước và nhà đầu tư nên chủ động mời Mặt trận tham gia ngay từ khâu xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, thay vì chỉ mời khi đã phát sinh khiếu kiện. Điều này giúp tăng tính đồng thuận, hạn chế rủi ro pháp lý và chi phí xã hội.
Thứ hai, người dân bị thu hồi đất, có tranh chấp hoặc có nghi ngờ về tính minh bạch trong giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, cấp Giấy chứng nhận nên chủ động gửi ý kiến, kiến nghị đến Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, huyện, tỉnh. Điều 19 là cơ sở để Mặt trận tiếp nhận, tổ chức giám sát, phản biện hoặc phối hợp hòa giải, hỗ trợ người dân bảo vệ quyền lợi hợp pháp.
Thứ ba, các tổ chức thành viên của Mặt trận (công đoàn, hội nông dân, hội phụ nữ, đoàn thanh niên, hội cựu chiến binh…) cần lồng ghép nội dung tuyên truyền pháp luật đất đai vào hoạt động của mình để lan tỏa hiểu biết pháp luật, nhất là các quy định về quy hoạch, thu hồi, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Đây là cách cụ thể để thực hiện trách nhiệm được quy định tại khoản 3 Điều 19.
Thứ tư, khi viện dẫn Điều 19 trong hồ sơ, văn bản (kiến nghị, báo cáo giám sát, chương trình phối hợp…), nên ghi rõ khoản, điểm tương ứng để làm rõ căn cứ pháp lý cho từng hoạt động: ví dụ, giám sát bảng giá đất theo điểm c khoản 2 Điều 19 Luật Đất đai 2024, hoặc tham gia hòa giải tranh chấp theo điểm d khoản 2 Điều 19 Luật Đất đai 2024.