Điều 178 Luật Đất đai 2024: Đất nông nghiệp do cá nhân, cộng đồng dân cư sử dụng
Bình luận Điều 178 Luật Đất đai 2024 về đất nông nghiệp do cá nhân, cộng đồng dân cư sử dụng, quyền, nghĩa vụ và các giới hạn quan trọng.
Điều 178. Đất nông nghiệp do cá nhân, cộng đồng dân cư sử dụng
1. Đất nông nghiệp do cá nhân sử dụng bao gồm đất nông nghiệp được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất; do thuê quyền sử dụng đất của người sử dụng đất khác; do nhận chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
2. Việc sử dụng đất nông nghiệp do Nhà nước giao cho cá nhân được quy định như sau:
a) Cá nhân đã được Nhà nước giao đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì được tiếp tục sử dụng theo quy định của Luật này;
b) Đối với những địa phương chưa thực hiện việc giao đất cho cá nhân theo quy định của pháp luật về đất đai thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất lập phương án giao đất và đề nghị Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định giao đất;
c) Đối với những địa phương mà Ủy ban nhân dân các cấp đã hướng dẫn hộ gia đình, cá nhân thương lượng điều chỉnh đất cho nhau trong quá trình thực hiện các chính sách, pháp luật về đất đai trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 và đang sử dụng ổn định thì được tiếp tục sử dụng.
3. Người sử dụng đất nông nghiệp được chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi để sử dụng đất kết hợp đa mục đích theo quy định tại Điều 218 của Luật này; được sử dụng một diện tích đất theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để xây dựng công trình phục vụ trực tiếp sản xuất nông nghiệp. Trường hợp sử dụng đất trồng lúa thì thực hiện theo quy định tại Điều 182 của Luật này.
4. Đất nông nghiệp do cộng đồng dân cư sử dụng được quy định như sau:
a) Cộng đồng dân cư được Nhà nước giao đất, công nhận quyền sử dụng đất để bảo tồn bản sắc dân tộc gắn với phong tục, tập quán, tín ngưỡng của các dân tộc;
b) Cộng đồng dân cư được Nhà nước giao đất, công nhận quyền sử dụng đất có trách nhiệm bảo vệ đất được giao, không được chuyển sang sử dụng vào mục đích khác.
Mục tiêu điều chỉnh và phạm vi áp dụng
Điều 178 tập trung vào chủ thể sử dụng đất nông nghiệp là cá nhân và cộng đồng dân cư, tách bạch với tổ chức, hộ gia đình, doanh nghiệp. Quy định nhằm bảo đảm ổn định quyền sử dụng đất nông nghiệp đã hình thành trước đây, đồng thời tạo khuôn khổ cho việc sử dụng linh hoạt, đa mục đích nhưng vẫn giữ được chức năng đất nông nghiệp. Đây là điều luật nền để xác định quyền, nghĩa vụ và giới hạn khi cá nhân, cộng đồng dân cư khai thác đất nông nghiệp trong thực tế.
Đất nông nghiệp do cá nhân sử dụng: trọng tâm cần nắm
Thứ nhất, Điều 178 khẳng định nguồn gốc hợp pháp của đất nông nghiệp do cá nhân sử dụng rất đa dạng: giao, cho thuê, công nhận, thuê lại, chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho… miễn là tuân thủ quy định pháp luật. Đây là căn cứ quan trọng khi xem xét tính hợp pháp của việc sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận, giải quyết tranh chấp.
Thứ hai, đối với đất nông nghiệp do Nhà nước giao cho cá nhân, điều luật nhấn mạnh sự kế thừa và ổn định: cá nhân đã được giao đất trước ngày Luật có hiệu lực tiếp tục được sử dụng theo Luật mới, không phải “xin lại”. Đồng thời, với địa phương chưa giao đất theo pháp luật đất đai trước đây, Ủy ban nhân dân cấp xã và cấp huyện có trách nhiệm hoàn thiện việc giao đất, tránh tình trạng sử dụng “treo”, không rõ căn cứ.
Thứ ba, điều luật “hợp thức hóa” thực tiễn đã diễn ra trước 15/10/1993, khi hộ gia đình, cá nhân được hướng dẫn tự thương lượng điều chỉnh đất cho nhau. Miễn là đang sử dụng ổn định, việc sử dụng được ghi nhận tiếp tục, tạo cơ sở pháp lý cho nhiều trường hợp lâu nay khó chứng minh nguồn gốc.
Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi và sử dụng đa mục đích
Khoản 3 mở rộng quyền của người sử dụng đất nông nghiệp theo hướng linh hoạt sản xuất, cho phép chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi và sử dụng đất kết hợp đa mục đích theo Điều 218 Luật Đất đai 2024. Tuy nhiên, đây không phải là quyền tự do tuyệt đối mà bị ràng buộc bởi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và hướng dẫn chi tiết của cơ quan có thẩm quyền.
Đáng chú ý, người sử dụng đất được dùng một diện tích nhất định (do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định) để xây dựng công trình phục vụ trực tiếp sản xuất nông nghiệp như nhà kho, chuồng trại, hệ thống tưới… nhưng không phải là cơ sở để xây nhà ở, xưởng kinh doanh phi nông nghiệp. Với đất trồng lúa, việc sử dụng và chuyển đổi phải tuân thủ riêng Điều 182, thể hiện chính sách bảo vệ nghiêm ngặt quỹ đất lúa.
Đất nông nghiệp do cộng đồng dân cư sử dụng
Điều 178 nhìn nhận cộng đồng dân cư là chủ thể sử dụng đất nông nghiệp để gắn với phong tục, tập quán, tín ngưỡng, bản sắc dân tộc, không đơn thuần là chủ thể sản xuất kinh tế. Việc Nhà nước giao hoặc công nhận quyền sử dụng đất cho cộng đồng dân cư nhằm bảo hộ các giá trị truyền thống, sinh kế gắn với văn hóa bản địa.
Trách nhiệm của cộng đồng dân cư được nhấn mạnh ở nghĩa vụ bảo vệ đất và không được chuyển sang mục đích khác. Điều này hạn chế tối đa nguy cơ “thương mại hóa” đất cộng đồng, ngăn việc phân chia cho từng cá nhân, chuyển nhượng, chuyển mục đích tùy tiện. Quy định này thường là căn cứ bác bỏ các yêu cầu chia nhỏ đất cộng đồng thành từng phần cho các thành viên.
Những nhầm lẫn thường gặp và lưu ý áp dụng
Nhầm lẫn giữa quyền của cá nhân và của cộng đồng dân cư
Một nhầm lẫn phổ biến là coi đất cộng đồng dân cư như “tài sản chung của các hộ”, từ đó yêu cầu chia tách, sang tên cho từng cá nhân. Điều 178 khẳng định đất nông nghiệp của cộng đồng dân cư dùng để bảo tồn bản sắc, không phải quỹ đất để phân chia riêng lẻ hay chuyển mục đích vì lợi ích của một vài thành viên.
Lạm dụng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi
Nhiều người hiểu sai rằng được chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi là được tự do xây dựng công trình, chuyển sang kinh doanh dịch vụ trên đất nông nghiệp. Trên thực tế, việc chuyển đổi chỉ giới hạn trong phạm vi sản xuất nông nghiệp và đất vẫn phải được sử dụng đúng mục đích; diện tích xây dựng công trình phục vụ sản xuất bị khống chế và phải tuân thủ quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Lưu ý về chứng cứ nguồn gốc và sử dụng ổn định
Trong giải quyết tranh chấp hoặc thủ tục cấp giấy chứng nhận, cần chú trọng chứng cứ về nguồn gốc đất và quá trình sử dụng ổn định, nhất là đối với các trường hợp thương lượng điều chỉnh đất trước 15/10/1993. Các loại giấy tờ, xác nhận của chính quyền cơ sở, nhân chứng, bản đồ, sổ mục kê… có vai trò then chốt để áp dụng được các quy định chuyển tiếp, bảo đảm quyền sử dụng đất hiện hữu.