Điều 168 Luật Đất đai 2024: Bảo đảm kinh phí xây dựng, quản lý, vận hành, bảo trì, nâng cấp hệ thống thông tin quốc gia về đất đai

Bình luận pháp lý Điều 168 Luật Đất đai 2024 về bảo đảm kinh phí hệ thống thông tin quốc gia về đất đai và cơ chế xã hội hóa.

Điều 168. Bảo đảm kinh phí xây dựng, quản lý, vận hành, bảo trì, nâng cấp hệ thống thông tin quốc gia về đất đai

1. Kinh phí xây dựng, quản lý, vận hành, bảo trì, nâng cấp hệ thống thông tin quốc gia về đất đai được sử dụng từ nguồn ngân sách nhà nước và các nguồn khác theo quy định của pháp luật.

2. Ngân sách trung ương bảo đảm cho các hoạt động xây dựng, quản lý, vận hành, bảo trì, nâng cấp hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin và phần mềm của Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai; xây dựng, cập nhật cơ sở dữ liệu đất đai do trung ương thực hiện.

3. Ngân sách địa phương bảo đảm cho các hoạt động quản lý, vận hành, bảo trì, nâng cấp hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin và phần mềm, xây dựng, cập nhật cơ sở dữ liệu đất đai do địa phương thực hiện.

4. Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực tham gia đầu tư xây dựng, cung cấp dịch vụ hệ thống hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin; cung cấp các phần mềm tiện ích, phần mềm ứng dụng trong việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai và khai thác thông tin, dữ liệu quốc gia về đất đai; xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai và cung cấp các dịch vụ giá trị gia tăng từ cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai.

1. Mục tiêu điều chỉnh và định hướng chính sách

Điều 168 tập trung vào bảo đảm nguồn lực tài chính bền vững cho việc xây dựng, quản lý, vận hành, bảo trì, nâng cấp hệ thống thông tin quốc gia về đất đai. Đây là điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa các quy định về cơ sở dữ liệu đất đai, số hóa thủ tục, minh bạch hóa thông tin và phục vụ quản lý nhà nước, thị trường bất động sản, cũng như quyền tiếp cận thông tin của người dân và doanh nghiệp.

Quy định cho thấy quan điểm đặt hệ thống thông tin đất đai ở vị trí hạ tầng dữ liệu thiết yếu, tương tự hạ tầng giao thông hoặc năng lượng: phải có ngân sách nhà nước bảo đảm, đồng thời mở rộng huy động nguồn lực xã hội thông qua đầu tư, cung cấp dịch vụ và các sản phẩm giá trị gia tăng trên nền dữ liệu đất đai.

2. Cấu trúc nguồn kinh phí và phân định trách nhiệm

2.1. Ngân sách nhà nước là nguồn bảo đảm cơ bản

Khoản 1 khẳng định kinh phí triển khai hệ thống thông tin quốc gia về đất đai xuất phát từ ngân sách nhà nước và các nguồn hợp pháp khác. Người áp dụng cần lưu ý: đây không chỉ là chi đầu tư ban đầu, mà bao gồm cả chi quản lý, vận hành, bảo trì, nâng cấp – tức là chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển lâu dài, tránh tình trạng “xây xong để đó”.

2.2. Phân vai giữa ngân sách trung ương và địa phương

Khoản 2 và khoản 3 thiết lập ranh giới: ngân sách trung ương chịu trách nhiệm cho hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin, phần mềm và cơ sở dữ liệu do trung ương trực tiếp xây dựng, cập nhật; ngân sách địa phương chịu trách nhiệm tương ứng cho hạ tầng, phần mềm và cơ sở dữ liệu thuộc phạm vi quản lý, triển khai của địa phương.

Phân định này quan trọng trong thực tiễn vì nó là cơ sở để xây dựng dự toán, phân bổ chi ngân sách hàng năm, kiểm tra, thanh tra tài chính và xác định trách nhiệm nếu hệ thống thông tin đất đai bị gián đoạn, lạc hậu hoặc không được bảo trì, cập nhật đúng quy định. Khi hệ thống bị thiếu kinh phí, việc xác định trách nhiệm sẽ dựa vào việc công đoạn đó thuộc cấp trung ương hay địa phương.

3. Cơ chế xã hội hóa và hợp tác công – tư

Khoản 4 là điểm mới có giá trị thực tiễn lớn: Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân có đủ năng lực tham gia đầu tư xây dựng, cung cấp dịch vụ hạ tầng kỹ thuật, phần mềm tiện ích, phần mềm ứng dụng, xây dựng cơ sở dữ liệu và cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng trên nền cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai.

Điều này mở ra không gian cho các mô hình hợp tác công – tư (PPP), thuê dịch vụ công nghệ thông tin, đặt hàng dịch vụ số, cũng như sự tham gia của doanh nghiệp công nghệ trong việc phát triển các giải pháp khai thác dữ liệu đất đai (bản đồ số, phân tích thị trường, dịch vụ tra cứu trực tuyến, ứng dụng quản lý tài sản…). Tuy nhiên, mọi hình thức hợp tác phải tuân thủ chặt chẽ quy định về bảo mật, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân và quản lý dữ liệu nhà nước.

4. Những nhầm lẫn thường gặp và lưu ý áp dụng

4.1. Không phải “tư nhân hóa” hệ thống dữ liệu đất đai

Một nhầm lẫn dễ gặp là coi việc khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư, cung cấp dịch vụ là “tư nhân hóa” hệ thống thông tin quốc gia về đất đai. Điều 168 chỉ cho phép tham gia vào hạ tầng và dịch vụ, không chuyển giao quyền sở hữu dữ liệu đất đai quốc gia cho tư nhân. Dữ liệu đất đai vẫn thuộc quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, doanh nghiệp chỉ được khai thác, sử dụng trên cơ sở hợp đồng, giấy phép, hoặc cơ chế pháp lý cụ thể.

4.2. Không đồng nhất “nguồn khác” với nguồn tài trợ tùy ý

Cụm từ “các nguồn khác theo quy định của pháp luật” không có nghĩa là mọi nguồn tiền đều có thể đổ vào hệ thống thông tin đất đai. Chỉ những nguồn hợp pháp, phù hợp chế độ tài chính – ngân sách, quy định về tài trợ, viện trợ, hợp đồng dịch vụ, PPP, trái phiếu… mới được chấp nhận. Khi triển khai các dự án cụ thể, cần đối chiếu với pháp luật về ngân sách nhà nước, đầu tư công, PPP, đấu thầu, quản lý tài sản công.

4.3. Lưu ý về trách nhiệm quản lý, vận hành

Điều 168 không trực tiếp quy định về chủ thể quản lý hệ thống thông tin quốc gia về đất đai, nhưng việc phân định ngân sách trung ương – địa phương gián tiếp gắn trách nhiệm quản lý, vận hành tương ứng. Khi giải quyết tranh chấp, khiếu nại liên quan đến việc không cung cấp thông tin, cung cấp chậm hoặc sai, cơ quan có thẩm quyền cần xem xét: thông tin thuộc phần cơ sở dữ liệu do trung ương hay địa phương quản lý, từ đó xác định trách nhiệm tài chính và trách nhiệm hành chính.

5. Giá trị áp dụng thực tiễn

Trong thực tế, Điều 168 là căn cứ quan trọng để:

  • Xây dựng, thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin, phần mềm, cơ sở dữ liệu đất đai ở cả cấp trung ương và địa phương.
  • Xác định cơ chế phân bổ, cấp phát, thanh quyết toán kinh phí cho hoạt động vận hành, bảo trì, cập nhật dữ liệu đất đai thường xuyên.
  • Thiết kế các mô hình hợp tác giữa cơ quan quản lý đất đai với doanh nghiệp công nghệ, đơn vị cung cấp dịch vụ dữ liệu, đảm bảo vừa huy động nguồn lực xã hội, vừa giữ vững nguyên tắc quản lý nhà nước đối với dữ liệu đất đai.

Khi áp dụng, cần gắn Điều 168 với các quy định về cơ sở dữ liệu đất đai, cung cấp thông tin đất đai, pháp luật tài chính – ngân sách và pháp luật về đầu tư, tránh cách hiểu phiến diện chỉ nhìn Điều luật này như một quy định thuần túy về nguồn chi.

Ngân sách trung ương và ngân sách địa phương chịu trách nhiệm gì theo Điều 168?
Ngân sách trung ương bảo đảm phần hạ tầng, phần mềm, cơ sở dữ liệu do trung ương thực hiện; ngân sách địa phương bảo đảm cho phần do địa phương triển khai.
“Nguồn khác theo quy định của pháp luật” trong Điều 168 được hiểu thế nào?
Đó là các nguồn tài chính hợp pháp ngoài ngân sách, như vốn PPP, tài trợ, dịch vụ CNTT…, nhưng phải tuân thủ pháp luật tài chính, đầu tư, ngân sách.
Điều 168 có cho phép tư nhân sở hữu dữ liệu quốc gia về đất đai không?
Không. Điều 168 chỉ khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư, cung cấp dịch vụ, giá trị gia tăng; dữ liệu quốc gia vẫn thuộc quản lý nhà nước.
Doanh nghiệp công nghệ có thể tham gia hệ thống thông tin đất đai theo hình thức nào?
Doanh nghiệp có thể cung cấp hạ tầng kỹ thuật, phần mềm tiện ích, phần mềm ứng dụng, dịch vụ giá trị gia tăng khai thác dữ liệu trên cơ sở hợp đồng, PPP.
Khi hệ thống thông tin đất đai không được bảo trì, cập nhật, xác định trách nhiệm tài chính ra sao?
Phải xác định phần việc thuộc trung ương hay địa phương. Từ đó truy trách nhiệm bảo đảm kinh phí, bố trí dự toán, tổ chức thực hiện của cấp tương ứng.
Mục lục văn bản