Điều 166 Luật Đất đai 2024: Quản lý, vận hành, khai thác và kết nối liên thông với cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai
Bình luận Điều 166 Luật Đất đai 2024 về quản lý, vận hành, kết nối và khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai, quyền tiếp cận thông tin đất đai.
Điều 166. Quản lý, vận hành, khai thác và kết nối liên thông với cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai
1. Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai phải được bảo đảm an ninh, an toàn theo quy định của pháp luật.
2. Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai được quản lý tập trung và được phân cấp quản lý theo trách nhiệm quản lý của cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương.
3. Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai phải được cập nhật đầy đủ, chính xác, kịp thời, bảo đảm phù hợp với hiện trạng quản lý, sử dụng đất đai.
4. Cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu của Bộ, ngành, địa phương được kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai để cập nhật, chia sẻ, khai thác, sử dụng thông tin. Việc kết nối liên thông phải bảo đảm hiệu quả, an toàn, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
5. Việc khai thác thông tin trong cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai được quy định như sau:
a) Dữ liệu trong cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai có giá trị sử dụng chính thức, tương đương văn bản giấy được cơ quan có thẩm quyền cung cấp;
b) Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu của Bộ, ngành, địa phương, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội được khai thác thông tin trong cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình;
c) Người sử dụng đất được khai thác thông tin của mình trong cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai;
d) Tổ chức, cá nhân không thuộc quy định tại điểm b và điểm c khoản này có nhu cầu khai thác thông tin trong cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai phải được sự đồng ý của cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai theo quy định của pháp luật;
đ) Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân được tiếp cận, khai thác thông tin, dữ liệu về đất đai theo quy định của pháp luật. Khuyến khích các tổ chức, cá nhân phản hồi, cung cấp, bổ sung thông tin cho cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai;
e) Việc khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu trong cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai phải trả phí khai thác, sử dụng tài liệu đất đai và giá cung cấp dịch vụ thông tin, dữ liệu về đất đai theo quy định;
g) Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý, sử dụng phí khai thác và sử dụng tài liệu đất đai từ Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai; Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quyết định giá sản phẩm, dịch vụ gia tăng sử dụng thông tin từ cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin đất đai theo quy định của pháp luật về giá.
1. Vị trí, mục tiêu của Điều 166 trong quản trị đất đai hiện đại
Điều 166 là nền tảng pháp lý cho việc chuyển từ quản lý hồ sơ đất đai trên giấy sang quản lý bằng dữ liệu số tập trung, liên thông. Mục tiêu chính là bảo đảm an ninh, an toàn thông tin; thống nhất dữ liệu trên phạm vi toàn quốc; và tạo hành lang khai thác dữ liệu minh bạch, có kiểm soát. Qua đó, cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai trở thành căn cứ chính thức cho quản lý nhà nước và giao dịch dân sự liên quan đến đất.
2. Nguyên tắc quản lý: tập trung nhưng phân cấp, gắn với trách nhiệm
Điều luật nhấn mạnh mô hình quản lý tập trung đi kèm phân cấp quản lý từ trung ương đến địa phương. Tập trung bảo đảm tiêu chuẩn thống nhất, tránh phân tán dữ liệu; phân cấp gắn trách nhiệm cập nhật, bảo trì, khai thác với từng cấp, từng cơ quan. Khi áp dụng, cần nhận diện rõ: cơ quan trung ương thiết lập chuẩn, hệ thống; địa phương chịu trách nhiệm cập nhật, phản ánh đúng hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn. Trách nhiệm này là cơ sở để xem xét sai sót, chậm cập nhật dẫn đến tranh chấp hoặc thiệt hại.
3. Yêu cầu về cập nhật dữ liệu: chuẩn mực để kiểm tra, khiếu nại
Điều luật đặt ra chuẩn: dữ liệu phải đầy đủ, chính xác, kịp thời và phù hợp hiện trạng quản lý, sử dụng đất. Đây là tiêu chí quan trọng để người sử dụng đất, tổ chức, cá nhân đối chiếu thực tế với thông tin trong hệ thống. Khi có chênh lệch giữa dữ liệu và thực tế, các chuẩn này là căn cứ để kiến nghị chỉnh sửa, khiếu nại về việc cập nhật không đúng, chậm trễ hoặc gây thiệt hại. Lưu ý, yêu cầu “kịp thời” không đồng nghĩa với tức thời; việc đánh giá thường gắn với quy trình chuyên môn, thời hạn xử lý hồ sơ và điều kiện kỹ thuật cụ thể.
4. Kết nối liên thông: phạm vi và giới hạn
Khoản 4 mở rộng phạm vi kết nối giữa cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai với cơ sở dữ liệu của Bộ, ngành, địa phương và các cơ sở dữ liệu quốc gia khác. Trọng tâm là cập nhật, chia sẻ, khai thác, sử dụng thông tin phù hợp chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn từng cơ quan. Điểm dễ hiểu sai là cho rằng mọi cơ quan đều được tiếp cận toàn bộ dữ liệu; thực tế, việc liên thông bị giới hạn bởi chức năng, thẩm quyền và các quy định về bảo vệ bí mật nhà nước, dữ liệu cá nhân, an ninh mạng. Khi áp dụng, cần đồng thời đối chiếu Điều 166 với pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân, an toàn thông tin, bảo vệ bí mật nhà nước.
5. Giá trị pháp lý của dữ liệu điện tử và quyền khai thác
5.1. Giá trị sử dụng chính thức của dữ liệu
Điểm a khẳng định dữ liệu trong cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai có giá trị sử dụng chính thức, tương đương văn bản giấy do cơ quan có thẩm quyền cung cấp. Điều này rất quan trọng khi giải quyết tranh chấp: bản trích xuất, chứng thực từ hệ thống dữ liệu quốc gia về đất đai được xem là nguồn thông tin chính thống, không chỉ là tài liệu tham khảo. Tuy nhiên, để dùng làm chứng cứ, vẫn cần tuân thủ quy định về chứng cứ trong tố tụng (hình thức cung cấp, xác nhận, đối chiếu).
5.2. Phân nhóm chủ thể được khai thác thông tin
Điều luật chia chủ thể khai thác thành ba nhóm rõ ràng:
- Nhóm cơ quan, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội: được khai thác thông tin trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn (điểm b), không phải mọi dữ liệu mà là dữ liệu phục vụ công việc được pháp luật giao.
- Người sử dụng đất: có quyền khai thác thông tin của chính mình (điểm c), tương ứng quyền được biết, kiểm tra thông tin về thửa đất, quyền sử dụng đất, biến động liên quan.
- Tổ chức, cá nhân khác: muốn khai thác phải được sự đồng ý của cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai (điểm d). Quy định này làm rõ ranh giới giữa quyền tiếp cận thông tin công và bảo vệ thông tin liên quan đến quyền, lợi ích của chủ sử dụng đất.
Cách hiểu sai phổ biến là cho rằng mọi thông tin đất đai đều là “công khai” và ai cũng có thể tra cứu chi tiết. Thực tế, việc tiếp cận phải qua cơ chế thẩm định, phê duyệt, căn cứ vào thẩm quyền và mục đích sử dụng.
6. Chính sách thúc đẩy phản hồi, bổ sung dữ liệu và nghĩa vụ trả phí
Điểm đ thể hiện định hướng xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai mở, tương tác: Nhà nước tạo điều kiện để tiếp cận, đồng thời khuyến khích tổ chức, cá nhân phản hồi, cung cấp, bổ sung thông tin. Đây là “kênh hai chiều” giúp dữ liệu sát thực tế hơn, nhất là trong bối cảnh biến động đất đai diễn ra nhanh. Tuy nhiên, việc tiếp nhận thông tin bổ sung phải được thẩm định, không đồng nghĩa với việc mọi đề nghị đều được cập nhật ngay.
Điểm e và g xác lập nguyên tắc có phí khai thác, sử dụng tài liệu đất đai và giá dịch vụ thông tin, dữ liệu. Bộ Tài chính hướng dẫn mức thu, chế độ thu – nộp – quản lý – sử dụng phí; Bộ Tài nguyên và Môi trường quyết định giá sản phẩm, dịch vụ gia tăng sử dụng thông tin. Lưu ý thực tiễn: không nên mặc định toàn bộ việc tra cứu là miễn phí; cần kiểm tra quy định chi tiết về các loại dịch vụ tra cứu, trích lục, cung cấp dữ liệu, trong đó một số dạng truy cập cơ bản có thể không thu, còn các dịch vụ chuyên sâu, dữ liệu khối lượng lớn sẽ có mức phí, giá tương ứng.
7. Lưu ý khi áp dụng Điều 166 trong thực tiễn
Thứ nhất, khi yêu cầu chỉnh sửa sai sót dữ liệu, người sử dụng đất cần chuẩn bị hồ sơ, chứng cứ về hiện trạng để đối chiếu với chuẩn “đầy đủ, chính xác, kịp thời”. Thứ hai, khi khai thác dữ liệu cho giao dịch hoặc thủ tục hành chính, nên yêu cầu bản trích xuất chính thức từ hệ thống, tránh chỉ sử dụng thông tin tra cứu không kèm xác nhận. Thứ ba, với các tổ chức, cá nhân không phải là người sử dụng đất, cần đánh giá rõ căn cứ pháp lý, mục đích chính đáng và thủ tục xin chấp thuận từ cơ quan quản lý dữ liệu. Cuối cùng, các cơ quan nhà nước khi kết nối, liên thông phải đồng thời tuân thủ Điều 166 và các luật chuyên ngành về bảo mật, dữ liệu cá nhân, tránh lạm dụng chia sẻ thông tin vượt quá chức năng, thẩm quyền.