Điều 141 Luật Đất đai 2024: Xác định diện tích đất ở khi công nhận quyền sử dụng đất

Phân tích Điều 141 Luật Đất đai về xác định diện tích đất ở khi công nhận quyền sử dụng đất, gắn với hạn mức, thời điểm hình thành và hiện trạng sử dụng.

Điều 141. Xác định diện tích đất ở khi công nhận quyền sử dụng đất

Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 137 của Luật này mà trên giấy tờ đó có thể hiện mục đích sử dụng để làm nhà ở, đất ở hoặc thổ cư thì diện tích đất ở được xác định khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất như sau:

1. Trường hợp thửa đất được hình thành trước ngày 18 tháng 12 năm 1980, người sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất đối với phần diện tích được xác định như sau:

a) Thửa đất có diện tích bằng hoặc lớn hơn hạn mức công nhận đất ở mà trên giấy tờ về quyền sử dụng đất đã ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được xác định theo giấy tờ đó; trường hợp diện tích đất ở thể hiện trên giấy tờ về quyền sử dụng đất nhỏ hơn hạn mức công nhận đất ở hoặc chưa ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được xác định bằng hạn mức công nhận đất ở;

b) Thửa đất có diện tích nhỏ hơn hạn mức công nhận đất ở thì toàn bộ diện tích đó được xác định là đất ở;

2. Trường hợp thửa đất được hình thành từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, người sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất đối với phần diện tích được xác định như sau:

a) Thửa đất có diện tích bằng hoặc lớn hơn hạn mức công nhận đất ở mà trên giấy tờ về quyền sử dụng đất đã ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được xác định theo giấy tờ đó; trường hợp diện tích đất ở thể hiện trên giấy tờ về quyền sử dụng đất nhỏ hơn hạn mức công nhận đất ở hoặc chưa ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được xác định bằng hạn mức công nhận đất ở;

b) Thửa đất có diện tích nhỏ hơn hạn mức công nhận đất ở thì toàn bộ diện tích đó được xác định là đất ở;

3. Trường hợp thửa đất được hình thành từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì diện tích đất ở được xác định theo giấy tờ về quyền sử dụng đất;

4. Đối với phần diện tích đất còn lại của thửa đất sau khi đã được xác định diện tích đất ở theo quy định tại điểm a khoản 1, điểm a khoản 2 và khoản 3 Điều này thì được xử lý như sau:

a) Trường hợp đã xây dựng nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống thì được xác định là mục đích đất ở và phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật;

b) Trường hợp đã xây dựng công trình sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, thương mại, dịch vụ thì công nhận đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp, đất thương mại, dịch vụ theo diện tích thực tế đã xây dựng công trình; hình thức sử dụng đất được công nhận như hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất là ổn định lâu dài;

c) Trường hợp hiện trạng sử dụng là đất nông nghiệp thì được công nhận là đất nông nghiệp; nếu người sử dụng đất có nhu cầu công nhận vào mục đích đất phi nông nghiệp mà phù hợp với quy hoạch sử dụng đất cấp huyện hoặc quy hoạch chung hoặc quy hoạch phân khu hoặc quy hoạch xây dựng hoặc quy hoạch nông thôn thì được công nhận vào mục đích đó nhưng phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật;

5. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ điều kiện, tập quán tại địa phương quy định cụ thể hạn mức công nhận đất ở quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này đối với trường hợp sử dụng đất trước ngày 18 tháng 12 năm 1980 và từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

6. Việc xác định lại diện tích đất ở của hộ gia đình, cá nhân trong trường hợp thửa đất ở có vườn, ao, đất thổ cư đã được cấp giấy chứng nhận trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 khi người sử dụng đất có nhu cầu hoặc khi Nhà nước thu hồi đất được thực hiện như sau:

a) Diện tích đất ở được xác định lại theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này nếu tại thời điểm cấp giấy chứng nhận trước đây có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6 và 7 Điều 137 của Luật này mà không thuộc quy định tại khoản 4 Điều 137 của Luật này; người sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất đối với diện tích được xác định lại là đất ở.

Trường hợp người sử dụng đất đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất một phần diện tích đất ở của thửa đất hoặc Nhà nước đã thu hồi một phần diện tích đất ở của thửa đất thì khi xác định lại diện tích đất ở phải trừ đi phần diện tích đất ở đã chuyển quyền sử dụng đất hoặc thu hồi;

b) Phần diện tích đất của người nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật hoặc phần diện tích đất Nhà nước đã thu hồi thì không được xác định lại theo quy định tại điểm a khoản này;

7. Cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 136 của Luật này có trách nhiệm xác định lại diện tích đất ở và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với trường hợp quy định tại điểm a khoản 6 Điều này.

1. Mục tiêu và tinh thần của Điều 141

Điều 141 nhằm xử lý hài hòa lợi ích Nhà nước và người sử dụng đất khi hợp thức hóa quyền sử dụng đất ở trong các giai đoạn lịch sử khác nhau. Trọng tâm là xác định diện tích đất ở được công nhận và phần diện tích phải nộp tiền sử dụng đất, trên cơ sở hạn mức, thời điểm hình thành thửa đất, giấy tờ về quyền sử dụng đất và hiện trạng sử dụng. Quy định này đồng thời tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho việc cấp Giấy chứng nhận, tránh tranh chấp và tùy tiện trong xác định diện tích đất ở.

2. Ba giai đoạn thời gian cốt lõi cần nắm

Điều 141 chia việc xác định diện tích đất ở theo ba giai đoạn hình thành thửa đất, mỗi giai đoạn có hệ quả pháp lý khác nhau: trước 18/12/1980; từ 18/12/1980 đến trước 15/10/1993; từ 15/10/1993 đến trước ngày Luật Đất đai mới có hiệu lực thi hành. Việc chứng minh thời điểm hình thành thửa đất và đối chiếu với giấy tờ về quyền sử dụng đất là điều kiện tiên quyết để áp dụng đúng khoản tương ứng. Người áp dụng luật cần xác định rõ thửa đất thuộc giai đoạn nào trước khi tính diện tích đất ở.

3. Hạn mức công nhận đất ở – trục chính của Điều 141

Khái niệm hạn mức công nhận đất ở là trục chính chi phối cách xác định diện tích đất ở trong khoản 1 và khoản 2. Nếu diện tích thửa đất bằng hoặc lớn hơn hạn mức và giấy tờ đã ghi rõ diện tích đất ở, thì diện tích đất ở theo giấy tờ; nếu ghi nhỏ hơn hoặc không ghi rõ thì diện tích đất ở được xác định bằng hạn mức. Trường hợp diện tích thửa đất nhỏ hơn hạn mức thì toàn bộ diện tích được xác định là đất ở. Người đọc cần lưu ý hạn mức do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể theo khoản 5 Điều 141, tùy điều kiện và tập quán địa phương.

4. Giấy tờ về quyền sử dụng đất và điều kiện “kích hoạt”

Điều 141 chỉ áp dụng cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1 đến 7 Điều 137 Luật Đất đai, trong đó thể hiện mục đích sử dụng làm nhà ở, đất ở hoặc thổ cư. Đây là điều kiện nền tảng để được xem xét công nhận đất ở theo cơ chế ưu đãi về tiền sử dụng đất ở các khoản 1, 2 và 6. Nếu không có hoặc không chứng minh được giấy tờ thuộc nhóm này, sẽ không được hưởng cơ chế miễn tiền sử dụng đất theo Điều 141, mà phải áp dụng các quy định khác về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất.

5. Xử lý phần diện tích đất còn lại sau khi xác định đất ở

Khoản 4 là điểm thường bị bỏ qua nhưng có ý nghĩa lớn trong thực tiễn. Sau khi xác định diện tích đất ở theo các khoản 1, 2, 3, phần diện tích còn lại của thửa đất được xử lý theo hiện trạng sử dụng: đã xây dựng nhà ở, công trình phục vụ đời sống thì xác định là đất ở và phải nộp tiền sử dụng đất; đã xây dựng công trình sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, thương mại, dịch vụ thì công nhận là đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp, đất thương mại, dịch vụ; nếu đang sử dụng làm đất nông nghiệp thì công nhận đất nông nghiệp, trừ trường hợp người sử dụng có nhu cầu chuyển sang mục đích phi nông nghiệp phù hợp quy hoạch và chấp nhận nghĩa vụ tiền sử dụng đất. Khi áp dụng, cần khảo sát hiện trạng thực tế, đối chiếu với quy hoạch và chuẩn bị hồ sơ chứng minh mục đích sử dụng để tránh tranh chấp.

6. Trường hợp đặc thù: đất có vườn, ao, đất thổ cư đã cấp Giấy chứng nhận trước 01/7/2004

Khoản 6 và khoản 7 giải quyết việc xác định lại diện tích đất ở đối với thửa đất có vườn, ao, đất thổ cư đã được cấp Giấy chứng nhận trước ngày 01/7/2004. Nếu tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận trước đây có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7 Điều 137, không thuộc khoản 4 Điều 137, thì diện tích đất ở được xác định lại theo khoản 1, 2 Điều 141 và không phải nộp tiền sử dụng đất đối với phần diện tích được xác định lại. Khi xác định lại, phải trừ phần diện tích đất ở đã chuyển nhượng hoặc đã bị Nhà nước thu hồi. Cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận có trách nhiệm chủ động xác định lại và cấp Giấy chứng nhận theo khoản 7; người sử dụng đất cần chuẩn bị đầy đủ giấy tờ, chứng cứ về quá trình sử dụng và các giao dịch đã thực hiện để tránh bị giảm diện tích đất ở do không chứng minh được.

7. Những nhầm lẫn thường gặp và lưu ý áp dụng

7.1. Nhầm lẫn giữa hạn mức công nhận đất ở và diện tích thửa đất

Người dân thường cho rằng nếu thửa đất có diện tích lớn hơn hạn mức thì toàn bộ diện tích đều được công nhận là đất ở mà không phải nộp tiền sử dụng đất. Đây là cách hiểu sai. Chỉ phần diện tích được xác định theo giấy tờ hoặc đến mức hạn mức mới được miễn tiền sử dụng đất; phần còn lại vẫn phải xem xét theo khoản 4, gắn với hiện trạng và nghĩa vụ tài chính. Khi tư vấn, cần phân biệt rõ: hạn mức là căn cứ tính diện tích được ưu đãi, không phải ranh giới tuyệt đối của thửa đất.

7.2. Nhầm lẫn giữa "thổ cư" với mọi loại đất có nhà trên đất

Điều 141 yêu cầu giấy tờ thể hiện mục đích sử dụng làm nhà ở, đất ở hoặc thổ cư. Không phải mọi trường hợp có nhà xây dựng trên đất đều tự động được coi là đất ở. Phải xem xét nguồn gốc đất, loại đất theo hồ sơ địa chính, quy hoạch và giấy tờ về quyền sử dụng đất tương ứng. Nếu nhà xây trên đất nông nghiệp hoặc đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp mà không làm thủ tục chuyển mục đích, thì phần diện tích đó có thể chỉ được công nhận là đất nông nghiệp hoặc đất sản xuất, kinh doanh, và khi xin công nhận đất ở sẽ phát sinh nghĩa vụ tài chính theo khoản 4.

7.3. Lưu ý về vai trò quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

Khoản 5 giao cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể hạn mức công nhận đất ở đối với trường hợp sử dụng đất trước 18/12/1980 và từ 18/12/1980 đến trước 15/10/1993. Do đó, khi áp dụng Điều 141, bắt buộc phải tra cứu quyết định hoặc văn bản quy phạm pháp luật cấp tỉnh về hạn mức công nhận đất ở tại thời điểm áp dụng. Việc bỏ qua bước này là nguyên nhân phổ biến dẫn đến xác định sai diện tích đất ở, kéo theo khiếu nại, khởi kiện hành chính liên quan đến quyết định cấp Giấy chứng nhận.

Hạn mức công nhận đất ở theo Điều 141 được xác định như thế nào?
Hạn mức công nhận đất ở do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định căn cứ điều kiện, tập quán địa phương, áp dụng cho các trường hợp đất hình thành trước 15/10/1993.
Thửa đất hình thành trước 18/12/1980 có phải nộp tiền sử dụng đất khi công nhận đất ở không?
Người sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất đối với phần diện tích đất ở được xác định theo khoản 1 Điều 141, trên cơ sở hạn mức và giấy tờ về quyền sử dụng đất.
Phần đất còn lại sau khi xác định đất ở sẽ được xử lý ra sao?
Phần đất còn lại được xác định theo hiện trạng: đất ở, đất sản xuất phi nông nghiệp, thương mại dịch vụ, hoặc đất nông nghiệp; một số trường hợp phải nộp tiền sử dụng đất khi chuyển mục đích.
Đất có vườn, ao đã cấp sổ trước 01/7/2004 có được xác định lại diện tích đất ở?
Có, nếu đáp ứng điều kiện về giấy tờ theo Điều 137 và không thuộc khoản 4 Điều 137; và khi xác định lại không phải nộp tiền sử dụng đất với phần diện tích được công nhận là đất ở.
Có phải mọi diện tích đất có nhà xây trên đất đều là đất ở theo Điều 141?
Không, phải xem nguồn gốc và loại đất theo hồ sơ, giấy tờ và quy hoạch; nhà xây trên đất nông nghiệp hoặc đất sản xuất, kinh doanh không tự động được coi là đất ở.
Mục lục văn bản