Điều 137 Luật Đất đai 2024: Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất

Bình luận Điều 137 Luật Đất đai 2024 về cấp Giấy chứng nhận khi có giấy tờ quyền sử dụng đất, điều kiện miễn tiền sử dụng đất và lưu ý thực tiễn.

Điều 137. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có một trong các loại giấy tờ được lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Một trong các giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất, gồm: Bằng khoán điền thổ; Văn tự đoạn mãi bất động sản có chứng nhận của cơ quan thuộc chế độ cũ; Văn tự mua bán nhà ở, tặng cho nhà ở, đổi nhà ở, thừa kế nhà ở mà gắn liền với đất ở có chứng nhận của cơ quan thuộc chế độ cũ; Bản di chúc hoặc giấy thỏa thuận tương phân di sản về nhà ở được cơ quan thuộc chế độ cũ chứng nhận; Giấy phép cho xây cất nhà ở; Giấy phép hợp thức hóa kiến trúc của cơ quan thuộc chế độ cũ cấp; Bản án của Tòa án thuộc chế độ cũ đã có hiệu lực thi hành;

c) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận đã sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

đ) Sổ mục kê, sổ kiến điền lập trước ngày 18 tháng 12 năm 1980 mà có tên người sử dụng đất;

e) Một trong các giấy tờ được lập trong quá trình thực hiện đăng ký ruộng đất theo Chỉ thị số 299/TTg ngày 10 tháng 11 năm 1980 của Thủ tướng Chính phủ về công tác đo đạc, phân hạng và đăng ký ruộng đất trong cả nước do cơ quan nhà nước đang quản lý mà có tên người sử dụng đất, bao gồm: Biên bản xét duyệt của Hội đồng đăng ký ruộng đất cấp xã xác định người đang sử dụng đất là hợp pháp; Bản tổng hợp các trường hợp sử dụng đất hợp pháp do Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Hội đồng đăng ký ruộng đất cấp xã hoặc cơ quan quản lý đất đai cấp huyện, cấp tỉnh lập; Đơn xin đăng ký quyền sử dụng ruộng đất; Giấy tờ về việc chứng nhận đã đăng ký quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân cấp xã, cấp huyện hoặc cấp tỉnh cấp cho người sử dụng đất;

g) Giấy tờ về việc kê khai, đăng ký nhà cửa được Ủy ban nhân dân cấp xã, cấp huyện hoặc cấp tỉnh xác nhận mà trong đó có ghi diện tích đất có nhà;

h) Giấy tờ của đơn vị quốc phòng giao đất cho cán bộ, chiến sĩ làm nhà ở theo Chỉ thị số 282/CT-QP ngày 11 tháng 7 năm 1991 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng mà việc giao đất đó phù hợp với quy hoạch sử dụng đất làm nhà ở của cán bộ, chiến sĩ trong quy hoạch đất quốc phòng đã được phê duyệt tại thời điểm giao đất;

i) Dự án hoặc danh sách hoặc văn bản về việc di dân đi xây dựng khu kinh tế mới, di dân tái định cư được Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh hoặc cơ quan có thẩm quyền phê duyệt mà có tên người sử dụng đất;

k) Giấy tờ có nội dung về quyền sở hữu nhà ở, công trình; giấy tờ về việc xây dựng, sửa chữa nhà ở, công trình được Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh hoặc cơ quan quản lý nhà nước về nhà ở, xây dựng chứng nhận hoặc cho phép;

l) Giấy tờ tạm giao đất của Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh; Đơn đề nghị được sử dụng đất được Ủy ban nhân dân cấp xã, hợp tác xã nông nghiệp phê duyệt, chấp thuận trước ngày 01 tháng 7 năm 1980 hoặc được Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh phê duyệt, chấp thuận;

m) Giấy tờ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc giao đất cho cơ quan, tổ chức để bố trí đất cho cán bộ, công nhân viên tự làm nhà ở hoặc xây dựng nhà ở để phân hoặc cấp cho cán bộ, công nhân viên bằng vốn không thuộc ngân sách nhà nước hoặc do cán bộ, công nhân viên tự đóng góp xây dựng;

n) Giấy tờ khác về quyền sử dụng đất có trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định phù hợp với thực tiễn của địa phương.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có giấy tờ của nông, lâm trường quốc doanh về việc giao đất để làm nhà ở hoặc làm nhà ở kết hợp với sản xuất nông, lâm nghiệp trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

3. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:

a) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương, nhà đại đoàn kết gắn liền với đất;

b) Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật.

4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có giấy tờ về việc được Nhà nước giao đất, cho thuê đất theo đúng quy định của pháp luật từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất; trường hợp chưa nộp tiền sử dụng đất thì phải nộp theo quy định của pháp luật.

5. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật và đất đó không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất; việc thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.

6. Hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phán quyết của Trọng tài thương mại Việt Nam, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành, văn bản công nhận kết quả hòa giải thành thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất; việc thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.

7. Hộ gia đình, cá nhân có bản sao một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 6 Điều này mà bản gốc giấy tờ đã bị thất lạc và cơ quan nhà nước không còn lưu giữ hồ sơ quản lý việc cấp loại giấy tờ này, được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là đất sử dụng ổn định, không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất; việc thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.

8. Trường hợp người đang sử dụng đất có một trong giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 7 của Điều này mà trên giấy tờ đó có các thời điểm khác nhau thì người sử dụng đất được chọn thời điểm trên giấy tờ để làm căn cứ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.

9. Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có công trình là đình, đền, miếu, am, nhà thờ họ, công trình tín ngưỡng khác; chùa không thuộc quy định tại khoản 1 Điều 213 của Luật này; đất nông nghiệp quy định tại khoản 4 Điều 178 của Luật này và đất đó không có tranh chấp, có giấy tờ xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất là đất sử dụng chung cho cộng đồng dân cư thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.

1. Mục tiêu chính của Điều 137

Điều 137 nhằm hợp thức hóa và ghi nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với các trường hợp đã có giấy tờ về đất qua nhiều giai đoạn pháp luật khác nhau nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận. Quy định này vừa đảm bảo quyền lợi của người sử dụng đất ổn định, vừa giải quyết tồn đọng hồ sơ đất đai lịch sử, giảm tranh chấp và tăng tính công khai, minh bạch trong quản lý đất đai.

Một trọng tâm quan trọng là phân nhóm giấy tờ theo từng thời kỳ, từng loại chủ thể, đồng thời xác định rõ trường hợp không phải nộp tiền sử dụng đất và trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo pháp luật thuế và tài chính đất đai.

2. Các điều kiện cốt lõi để “kích hoạt” Điều 137

Để được áp dụng Điều 137, người yêu cầu cấp Giấy chứng nhận cần lưu ý các điều kiện chính sau:

  • Đang sử dụng đất ổn định: Việc sử dụng đất liên tục, phù hợp mục đích, không bị tranh chấp, không bị xử lý vi phạm về đất tại thời điểm xem xét cấp Giấy chứng nhận.
  • Có giấy tờ về quyền sử dụng đất hoặc quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất: Giấy tờ phải thuộc một trong các nhóm quy định tại khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 Điều 137, được lập trước các mốc thời gian luật định (ví dụ trước 15/10/1993, trước 01/7/2004).
  • Đất không có tranh chấp: Đây là điều kiện xuyên suốt, đặc biệt nhấn mạnh tại khoản 5, 7 và 9, là cơ sở để cơ quan đăng ký đất đai xem xét cấp Giấy chứng nhận.
  • Chấp hành nghĩa vụ tài chính: Nhiều trường hợp được miễn tiền sử dụng đất, nhưng khoản 4, 5, 6, 7 nhấn mạnh việc phải nộp tiền sử dụng đất hoặc nghĩa vụ tài chính khác nếu pháp luật có quy định.

Như vậy, Điều 137 không chỉ yêu cầu có giấy tờ, mà còn đặt trong bối cảnh sử dụng đất ổn định, rõ chủ thể, rõ nguồn gốc và không tranh chấp.

3. Nhóm trường hợp được miễn tiền sử dụng đất

Các khoản 1, 2 và 3 Điều 137 xác định nhiều trường hợp được cấp Giấy chứng nhận và không phải nộp tiền sử dụng đất. Có thể khái quát thành các nhóm:

  • Giấy tờ lịch sử trước 15/10/1993 (khoản 1): Bao gồm giấy tờ do các cơ quan nhà nước qua các thời kỳ cấp, giấy tờ chế độ cũ, sổ mục kê, sổ kiến điền, giấy tờ đăng ký ruộng đất theo Chỉ thị 299/TTg, giấy tờ kê khai nhà cửa, giao đất của đơn vị quốc phòng, các dự án di dân, tái định cư và các giấy tờ khác do UBND cấp tỉnh quy định.
  • Giấy tờ nông, lâm trường quốc doanh (khoản 2): Trường hợp được nông, lâm trường quốc doanh giao đất làm nhà ở, sản xuất trước 01/7/2004, nếu đang sử dụng đất ổn định sẽ được cấp Giấy chứng nhận và miễn tiền sử dụng đất.
  • Giấy tờ thừa kế, tặng cho, nhà tình nghĩa, thanh lý, hóa giá, mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước (khoản 3): Nhóm này công nhận quyền sử dụng đất gắn với quá trình chuyển giao hợp pháp tài sản nhà ở và đất ở từ cơ quan nhà nước hoặc từ các quan hệ dân sự hợp pháp.

Những quy định này thể hiện chủ trương bảo vệ người sử dụng đất ngay tình đã có giấy tờ hợp lệ trong lịch sử, tránh việc phải nộp lại tiền sử dụng đất đối với các quan hệ đã được xác lập và thừa nhận từ lâu.

4. Các trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ tài chính

Khoản 4, 5, 6, 7 tập trung vào những trường hợp người sử dụng đất có giấy tờ nhưng nghĩa vụ tài chính chưa được thực hiện đầy đủ. Trọng tâm:

  • Khoản 4: Đất được Nhà nước giao, cho thuê từ 15/10/1993 đến trước ngày Luật Đất đai 2024 có hiệu lực mà chưa được cấp Giấy chứng nhận. Trường hợp chưa nộp tiền sử dụng đất thì phải nộp theo quy định khi được cấp.
  • Khoản 5: Giấy tờ ghi tên người khác kèm giấy tờ chuyển quyền sử dụng đất nhưng chưa làm thủ tục sang tên; nếu đất không tranh chấp vẫn được cấp Giấy chứng nhận, song nghĩa vụ tài chính phải thực hiện trên cơ sở giao dịch chuyển quyền.
  • Khoản 6: Trường hợp được sử dụng đất theo bản án, quyết định, phán quyết, quyết định giải quyết tranh chấp hoặc văn bản hòa giải thành; việc cấp Giấy chứng nhận đi kèm nghĩa vụ tài chính theo quy định chung.
  • Khoản 7: Bản sao giấy tờ, bản gốc đã thất lạc và cơ quan nhà nước không còn lưu hồ sơ; UBND cấp xã xác nhận sử dụng ổn định, không tranh chấp thì vẫn được cấp Giấy chứng nhận nhưng phải thực hiện nghĩa vụ tài chính.

Điểm chung là pháp luật cho phép công nhận quyền trên cơ sở thực tế sử dụng đất và các tài liệu, phán quyết hiện có, song vẫn giữ nguyên nguyên tắc: các khoản tiền sử dụng đất, thuế, phí, lệ phí liên quan phải được thu đúng, đủ.

5. Xử lý trường hợp tên trên giấy tờ và người sử dụng đất khác nhau

Khoản 5 Điều 137 là cơ chế quan trọng để tháo gỡ tình trạng chưa sang tên trên giấy chứng nhận hoặc giấy tờ về đất rất phổ biến. Pháp luật cho phép hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất, có giấy tờ mang tên người khác kèm tài liệu chuyển quyền (hợp đồng, văn tự, giấy tờ chuyển nhượng, tặng cho...) được xem xét cấp Giấy chứng nhận nếu:

  • Việc sử dụng đất là ổn định, phù hợp nội dung chuyển quyền.
  • Đất không có tranh chấp tại thời điểm giải quyết.
  • Có chứng cứ về giao dịch chuyển quyền (dù chưa đăng ký).

Tuy nhiên, người được cấp Giấy chứng nhận phải thực hiện nghĩa vụ tài chính tương ứng với giao dịch chuyển quyền, tránh tình trạng lách nghĩa vụ thuế, lệ phí do không đăng ký sang tên trong quá khứ.

6. Vai trò của bản án, quyết định, phán quyết, hòa giải thành

Khoản 6 Điều 137 nhấn mạnh vai trò của phán quyết cơ quan có thẩm quyền trong việc xác lập quyền sử dụng đất. Khi có bản án, quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phán quyết của Trọng tài thương mại, quyết định thi hành án, quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo hoặc văn bản công nhận hòa giải thành đã được thi hành, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư là người được quyền sử dụng đất sẽ được cấp Giấy chứng nhận.

Quy định này cho thấy Giấy chứng nhận không chỉ dựa trên giấy tờ lịch sử, mà còn dựa trên kết quả giải quyết tranh chấp, bảo đảm thi hành triệt để các phán quyết, quyết định có hiệu lực, đồng thời ổn định tình trạng pháp lý của thửa đất.

7. Trường hợp chỉ có bản sao giấy tờ, bản gốc thất lạc

Khoản 7 là cơ chế linh hoạt để xử lý thực tế việc thất lạc giấy tờ đất trong nhiều giai đoạn lịch sử. Khi người sử dụng đất chỉ có bản sao các giấy tờ thuộc các khoản 1-6, nhưng bản gốc đã mất và cơ quan nhà nước không còn lưu hồ sơ, pháp luật cho phép cấp Giấy chứng nhận nếu:

  • UBND cấp xã nơi có đất xác nhận đất sử dụng ổn định, không tranh chấp.
  • Bản sao đủ cơ sở để xác định nguồn gốc, thời điểm, loại giấy tờ.

Đây là quy định có tính nhân văn, vừa bảo vệ quyền lợi người sử dụng đất ngay tình, vừa tránh việc thiếu Giấy chứng nhận chỉ vì lý do kỹ thuật – lưu trữ hồ sơ lịch sử không còn, song nghĩa vụ tài chính vẫn phải được thực hiện theo luật.

8. Quyền lựa chọn thời điểm trên giấy tờ

Khoản 8 cho phép người sử dụng đất chọn thời điểm ghi trên các giấy tờ để làm căn cứ cấp Giấy chứng nhận nếu trên giấy tờ có các thời điểm khác nhau. Quy định này đặc biệt quan trọng trong việc:

  • Xác định thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định.
  • Làm căn cứ áp dụng quy định về miễn, giảm nghĩa vụ tài chính, hoặc các chính sách ưu đãi theo từng giai đoạn.

Người sử dụng đất cần cân nhắc lựa chọn thời điểm có lợi nhưng phù hợp với hồ sơ, chứng cứ, tránh việc lựa chọn thời điểm “đẹp” nhưng không có cơ sở pháp lý, nguyên nhân khiến cơ quan đăng ký đất đai từ chối hoặc yêu cầu bổ sung, giải trình.

9. Quy định đối với cộng đồng dân cư

Khoản 9 dành riêng cho cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có công trình tín ngưỡng, nhà thờ họ, đất nông nghiệp dùng chung. Điều kiện chủ yếu:

  • Đất không có tranh chấp và đang được sử dụng chung cho cộng đồng dân cư.
  • Có giấy tờ xác nhận của UBND cấp xã về việc sử dụng chung.

Điểm trọng tâm là bảo vệ, ổn định quyền sử dụng đất đối với các công trình có yếu tố truyền thống, tín ngưỡng, văn hóa cộng đồng, tránh tình trạng cá nhân hóa hoặc tranh chấp nội bộ trong cộng đồng.

10. Các nhầm lẫn thường gặp khi áp dụng Điều 137

10.1. Nhầm lẫn giữa "có giấy tờ" và "được cấp Giấy chứng nhận" tự động

Nhiều người cho rằng chỉ cần có giấy tờ thuộc các khoản 1-3 là mặc nhiên được cấp Giấy chứng nhận và không phải nộp tiền sử dụng đất. Thực tế, phải đồng thời đáp ứng điều kiện sử dụng ổn định, không tranh chấp, phù hợp quy hoạch, mục đích sử dụng và hoàn thành các nghĩa vụ tài chính còn lại (nếu pháp luật quy định).

10.2. Bỏ qua yếu tố thời điểm lập giấy tờ

Mốc thời gian 15/10/1993, 01/7/2004 và thời điểm Luật Đất đai 2024 có hiệu lực là yếu tố quyết định phân loại trường hợp được miễn hay phải nộp tiền sử dụng đất. Hiểu sai mốc thời gian dễ dẫn đến đòi hỏi miễn tiền sử dụng đất trong khi pháp luật không cho phép.

10.3. Không sử dụng cơ chế bản án, quyết định, hòa giải

Nhiều bên tranh chấp đất đai chỉ tập trung vào giấy tờ lịch sử mà bỏ qua việc đưa tranh chấp ra cơ quan có thẩm quyền, trong khi khoản 6 cho phép sau khi có bản án, quyết định, phán quyết, văn bản hòa giải thành, quyền sử dụng đất được xác định rõ và được cấp Giấy chứng nhận, giải quyết dứt điểm tranh chấp.

11. Lưu ý thực tiễn khi chuẩn bị hồ sơ

Khi áp dụng Điều 137, người dân và luật sư nên lưu ý:

  • Thu thập đầy đủ các giấy tờ theo đúng nhóm quy định, sắp xếp theo thời điểm và nguồn gốc để cơ quan đăng ký đất đai dễ kiểm tra.
  • Xin xác nhận của UBND cấp xã về sử dụng đất ổn định, không tranh chấp trong các trường hợp cần (khoản 5, 7, 9).
  • Đánh giá trước nghĩa vụ tài chính phải thực hiện, đặc biệt với đất giao, cho thuê sau 15/10/1993 hoặc các trường hợp chuyển quyền chưa đăng ký.
  • Kết hợp Điều 137 với các quy định về đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận, thu tiền sử dụng đất trong Luật Đất đai 2024 và văn bản hướng dẫn để tránh hiểu Điều 137 như một quy định "độc lập" tách rời hệ thống pháp luật đất đai.
Có giấy tờ chế độ cũ về nhà đất trước năm 1975 thì có được miễn tiền sử dụng đất khi cấp Giấy chứng nhận không?
Nếu giấy tờ thuộc nhóm quy định tại khoản 1 Điều 137 và đất đang sử dụng ổn định, không tranh chấp, người sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận và không phải nộp tiền sử dụng đất.
Giấy tờ về đất ghi tên người khác nhưng tôi đã mua từ lâu, chưa sang tên thì có được cấp Giấy chứng nhận không?
Khoản 5 Điều 137 cho phép cấp Giấy chứng nhận nếu có giấy tờ chuyển quyền, đất không tranh chấp và sử dụng ổn định; tuy nhiên bạn phải thực hiện nghĩa vụ tài chính tương ứng.
Chỉ còn bản sao giấy tờ đất, bản gốc thất lạc và cơ quan nhà nước không còn lưu hồ sơ thì có xin cấp Giấy chứng nhận được không?
Khoản 7 Điều 137 cho phép dùng bản sao nếu UBND xã xác nhận đất sử dụng ổn định, không tranh chấp; bạn vẫn phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định.
Được nông, lâm trường quốc doanh giao đất làm nhà ở trước 01/7/2004 thì khi xin Giấy chứng nhận có phải nộp tiền sử dụng đất?
Theo khoản 2 Điều 137, trường hợp này được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.
Có bản án của Tòa án giao quyền sử dụng đất cho tôi thì vẫn cần giấy tờ về đất khác để xin Giấy chứng nhận không?
Khoản 6 Điều 137 coi bản án, quyết định đã thi hành là căn cứ cấp Giấy chứng nhận; bạn chủ yếu cần chứng minh việc thi hành án và thực hiện nghĩa vụ tài chính.
Mục lục văn bản