Điều 136 Luật Đất đai 2024: Thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất
Bình luận Điều 136 Luật Đất đai 2024 về thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đăng ký biến động, giúp xác định đúng cơ quan giải quyết.
Điều 136. Thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất
1. Thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất lần đầu đối với các trường hợp đăng ký lần đầu mà có nhu cầu cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và trường hợp quy định tại điểm b khoản 7 Điều 219 của Luật này được quy định như sau:
a) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất quy định tại các khoản 1, 2, 5, 6 và 7 Điều 4 của Luật này.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được ủy quyền cho cơ quan có chức năng quản lý đất đai cùng cấp cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với trường hợp quy định tại khoản này;
b) Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 4 của Luật này.
2. Thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, xác nhận thay đổi đối với trường hợp đăng ký biến động được quy định như sau:
a) Tổ chức đăng ký đất đai thực hiện cho người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất là tổ chức trong nước, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất là tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài;
b) Chi nhánh của tổ chức đăng ký đất đai hoặc tổ chức đăng ký đất đai thực hiện cho người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất là cá nhân, cộng đồng dân cư, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài;
c) Tổ chức đăng ký đất đai, chi nhánh của tổ chức đăng ký đất đai được sử dụng con dấu của mình để thực hiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc xác nhận thay đổi vào giấy chứng nhận đã cấp.
1. Mục đích và định hướng của quy định về thẩm quyền
Điều 136 thiết lập cơ chế phân cấp thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất một cách rõ ràng, thống nhất trên phạm vi toàn quốc. Việc phân định giữa cấp tỉnh, cấp huyện và hệ thống tổ chức đăng ký đất đai nhằm gắn thẩm quyền với tính chất chủ thể (tổ chức, cá nhân, tổ chức nước ngoài…) và tính chất giao dịch (đăng ký lần đầu hay đăng ký biến động). Qua đó, thủ tục hành chính về đất đai được chuẩn hóa, hạn chế tình trạng đùn đẩy, chồng chéo hoặc giải quyết sai thẩm quyền.
2. Trọng tâm: Phân tuyến thẩm quyền khi cấp Giấy chứng nhận lần đầu
2.1. Cấp tỉnh – thẩm quyền với chủ thể có tính “tổ chức” và yếu tố nước ngoài
Khoản 1 điểm a tập trung trao thẩm quyền cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với các chủ thể là tổ chức, tổ chức tôn giáo, cơ sở tôn giáo, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và các trường hợp đặc biệt tương ứng tại Điều 4 Luật Đất đai. Việc giao cho cấp tỉnh xử lý nhóm chủ thể này xuất phát từ giá trị, mức độ phức tạp của dự án và yêu cầu quản lý nhà nước ở tầm rộng hơn, tránh manh mún, thiếu thống nhất. Quy định cho phép UBND cấp tỉnh ủy quyền cho cơ quan quản lý đất đai cùng cấp cấp Giấy chứng nhận, thể hiện xu hướng đẩy mạnh ủy quyền hành chính để giảm tải cho cơ quan dân cử nhưng vẫn bảo đảm trách nhiệm kiểm soát của cấp tỉnh.
2.2. Cấp huyện – tập trung xử lý hồ sơ của hộ gia đình, cá nhân
Khoản 1 điểm b trao thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận lần đầu cho Ủy ban nhân dân cấp huyện đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư theo Điều 4. Cách bố trí này phù hợp với nguyên tắc quản lý đất đai gắn với địa bàn cư trú và sinh hoạt của người dân, giúp tiếp cận dịch vụ công thuận tiện hơn và rút ngắn thời gian giải quyết. Trên thực tế, sai sót thường gặp là người dân nộp hồ sơ lên cấp tỉnh trong khi thuộc thẩm quyền cấp huyện, hoặc nhầm lẫn giữa nơi có đất và nơi đăng ký hộ khẩu; cần lưu ý thẩm quyền gắn với địa bàn nơi có thửa đất.
3. Đăng ký biến động: chuyển trọng tâm sang tổ chức đăng ký đất đai
3.1. Giao thẩm quyền trực tiếp cho tổ chức đăng ký đất đai
Khoản 2 chuyển thẩm quyền cấp, xác nhận thay đổi khi đăng ký biến động từ UBND sang hệ thống tổ chức đăng ký đất đai và chi nhánh. Tổ chức đăng ký đất đai xử lý hồ sơ của các chủ thể là tổ chức trong nước, tổ chức tôn giáo, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; đồng thời cấp Giấy chứng nhận cho chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất là tổ chức, cá nhân nước ngoài. Sự chuyển dịch này thể hiện xu hướng chuyên môn hóa, coi đăng ký đất đai là dịch vụ công chuyên ngành do cơ quan kỹ thuật thực hiện dưới sự quản lý của cơ quan nhà nước, thay vì quyết định hành chính thuần túy của UBND.
3.2. Chi nhánh tổ chức đăng ký đất đai – “đầu mối” cho cá nhân, cộng đồng
Khoản 2 điểm b xác định chi nhánh tổ chức đăng ký đất đai hoặc tổ chức đăng ký đất đai là nơi thực hiện thủ tục cho cá nhân, cộng đồng dân cư và người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài. Điều này gắn với mô hình “một cấp tổ chức đăng ký đất đai” nhưng có mạng lưới chi nhánh tại địa bàn cấp huyện, tạo điều kiện để người dân nộp hồ sơ gần nơi ở. Khi áp dụng, cần phân biệt rõ: cấp Giấy chứng nhận lần đầu cho hộ gia đình, cá nhân là thẩm quyền UBND cấp huyện; nhưng các lần đăng ký biến động sau đó (chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế, thế chấp…) do chi nhánh tổ chức đăng ký đất đai thực hiện.
3.3. Sử dụng con dấu riêng – khẳng định tính chủ động, trách nhiệm
Khoản 2 điểm c cho phép tổ chức đăng ký đất đai, chi nhánh sử dụng con dấu của mình để cấp Giấy chứng nhận hoặc xác nhận thay đổi trên Giấy chứng nhận đã cấp. Quy định này chấm dứt tình trạng phụ thuộc vào con dấu của UBND, rút ngắn quy trình nội bộ và rõ ràng hóa trách nhiệm của cơ quan đăng ký. Về bản chất, tư cách pháp lý của Giấy chứng nhận không bị giảm giá trị, vì tổ chức đăng ký đất đai vẫn hoạt động trong khuôn khổ hệ thống cơ quan nhà nước và chịu sự chỉ đạo, kiểm tra của cấp có thẩm quyền.
4. Điều kiện “kích hoạt” và những nhầm lẫn thường gặp
Điều 136 chỉ áp dụng khi có yêu cầu cấp Giấy chứng nhận lần đầu (đăng ký lần đầu) hoặc có yêu cầu đăng ký biến động làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất. Đây là quy định về “thẩm quyền”, không phải căn cứ để được công nhận quyền sử dụng đất hay quyền sở hữu tài sản. Sai sót thực tế là đương sự cho rằng cơ quan “cấp sai thẩm quyền” thì Giấy chứng nhận mặc nhiên vô hiệu; trên phương diện pháp lý, việc xác định giá trị pháp lý của Giấy chứng nhận cần xem xét thêm các yếu tố về căn cứ cấp, trình tự, thủ tục và quy định của pháp luật có liên quan, không chỉ dựa vào yếu tố thẩm quyền hình thức.
Một nhầm lẫn khác là coi tổ chức đăng ký đất đai chỉ có nhiệm vụ “tiếp nhận và trả kết quả”, còn quyết định cấp Giấy chứng nhận luôn phải do UBND ký. Điều 136 đã khẳng định rõ thẩm quyền trực tiếp của tổ chức đăng ký đất đai trong giai đoạn đăng ký biến động. Khi tư vấn hoặc thực hiện thủ tục, cần đọc kỹ đối tượng chủ thể (theo Điều 4 Luật Đất đai), tính chất việc đăng ký (lần đầu hay biến động) để xác định đúng cơ quan tiếp nhận và ban hành Giấy chứng nhận, tránh hồ sơ bị trả lại vì sai thẩm quyền.
5. Lưu ý thực tiễn khi áp dụng
Thứ nhất, cần kiểm tra kỹ loại chủ thể liên quan đến thửa đất (tổ chức, cá nhân, cộng đồng, tổ chức nước ngoài, người gốc Việt Nam ở nước ngoài…) để xác định tuyến thẩm quyền theo đúng các khoản, điểm mà Điều 136 liên kết với Điều 4 Luật Đất đai. Thứ hai, phải phân biệt rõ “cấp lần đầu” và “đăng ký biến động”; cùng một thửa đất nhưng ở các giai đoạn khác nhau sẽ được giải quyết bởi chủ thể khác nhau (UBND hay tổ chức đăng ký đất đai). Thứ ba, lưu ý cơ chế ủy quyền của UBND cấp tỉnh cho cơ quan quản lý đất đai cùng cấp, bởi trong thực tế quyết định ủy quyền sẽ quy định chi tiết phạm vi và cách thức ký Giấy chứng nhận, là căn cứ để đánh giá đúng – sai về thẩm quyền khi phát sinh tranh chấp hoặc khiếu nại.