Điều 113 Luật Đất đai 2024: Đất do tổ chức phát triển quỹ đất phát triển, quản lý, khai thác

Bình luận Điều 113 Luật Đất đai 2024 về đất do tổ chức phát triển quỹ đất quản lý, khai thác và các lưu ý áp dụng thực tiễn.

Điều 113. Đất do tổ chức phát triển quỹ đất phát triển, quản lý, khai thác

1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao cho tổ chức phát triển quỹ đất quản lý, khai thác quỹ đất được hình thành từ các nguồn sau đây:

a) Đất quy định tại khoản 5 Điều 86 của Luật này;

b) Đất thu hồi trong trường hợp quy định tại khoản 26 và khoản 27 Điều 79 của Luật này để đấu giá quyền sử dụng đất;

c) Đất thu hồi theo quy định tại Điều 81, các điểm a, b, c, d khoản 1 và khoản 2 Điều 82 của Luật này tại khu vực đô thị;

d) Đất chuyển giao về địa phương quản lý, xử lý, thu hồi do sắp xếp lại, xử lý nhà, đất theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công, trừ trường hợp nhà, đất đó được xử lý theo hình thức điều chuyển hoặc bố trí sử dụng vào mục đích của Nhà nước theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công;

đ) Đất có nguồn gốc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước được Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất hằng năm mà Nhà nước thu hồi đất giao quản lý;

e) Đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản được trả lại theo quy định trong hợp đồng thuê đất;

g) Đất hình thành từ hoạt động lấn biển sử dụng vốn ngân sách nhà nước;

h) Đất thu hồi trong trường hợp quy định tại khoản 29 Điều 79 của Luật này.

2. Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền chỉ đạo tổ chức phát triển quỹ đất thực hiện các nhiệm vụ quy định tại Điều 115 của Luật này đối với quỹ đất do tổ chức phát triển quỹ đất phát triển, quản lý, khai thác. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất có trách nhiệm phối hợp với tổ chức phát triển quỹ đất quản lý, bảo vệ, chống lấn đất, chiếm đất.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Mục đích và ý nghĩa quản lý quỹ đất tập trung

Điều 113 hướng tới hình thành một đầu mối chuyên nghiệp trong quản lý, khai thác quỹ đất thuộc sở hữu toàn dân, thay vì để phân tán ở nhiều cơ quan. Việc tập trung đất về tổ chức phát triển quỹ đất giúp chuẩn hóa khâu giải phóng mặt bằng, quản lý sau thu hồi, chống bỏ hoang, lãng phí đất. Đồng thời, đây là cơ sở để tạo lập quỹ đất sạch phục vụ đấu giá, đấu thầu dự án, tăng thu ngân sách và minh bạch trong phân bổ nguồn lực đất đai.

Các nhóm đất chủ yếu được giao cho tổ chức phát triển quỹ đất

Nội dung khoản 1 cho thấy quỹ đất do tổ chức phát triển quỹ đất quản lý chủ yếu hình thành từ các loại đất Nhà nước thu hồi hoặc hình thành mới và cần một chủ thể công chuyên trách để xử lý. Đáng chú ý:

  • Nhóm đất thu hồi từ các trường hợp vi phạm, chấm dứt dự án, không đưa đất vào sử dụng theo quy định (các khoản 26, 27, 29 Điều 79; Điều 81; Điều 82 Luật Đất đai 2024) thường được định hướng đưa vào đấu giá quyền sử dụng đất, tránh tình trạng thu hồi rồi để trống.
  • Nhóm đất phát sinh từ sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc tài sản công và từ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước thể hiện mục tiêu kiểm soát chặt chẽ chuyển dịch đất công sang cơ chế thị trường, tránh thất thoát.
  • Nhóm đất hình thành từ hoạt động khoáng sản trả lại, lấn biển bằng vốn ngân sách là những khu vực cần đánh giá lại mục đích sử dụng, quy hoạch, nên được một đầu mối công nắm giữ để tổ chức khai thác hợp lý.

Từ cấu trúc này, có thể thấy Điều 113 không điều chỉnh mọi loại đất Nhà nước thu hồi, mà chỉ tập trung vào các nguồn đất cần xử lý, tái phân bổ thông qua cơ chế đấu giá, tổ chức khai thác hoặc bố trí lại theo quy hoạch.

Điều kiện "kích hoạt" phạm vi áp dụng Điều 113

Muốn áp dụng Điều 113, trước hết phải xác định nguồn gốc pháp lý của thửa đất có thuộc một trong các điểm a–h khoản 1 hay không. Nếu đất bị thu hồi nhưng thuộc trường hợp được điều chuyển, bố trí sử dụng ngay cho mục đích Nhà nước (theo pháp luật về tài sản công) thì không đưa vào quỹ đất do tổ chức phát triển quỹ đất quản lý. Ngoài ra, quyết định giao cho tổ chức phát triển quỹ đất thuộc thẩm quyền Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; đối với đất ở đô thị thu hồi theo Điều 81, Điều 82, cần kiểm tra đúng phạm vi khu vực đô thị mới áp dụng. Không đáp ứng các điều kiện này thì không thể viện dẫn Điều 113 làm căn cứ giao đất cho tổ chức phát triển quỹ đất.

Cơ chế phối hợp và trách nhiệm giữa các cấp

Khoản 2 làm rõ vai trò “chỉ đạo – thực thi – phối hợp” trong quản lý quỹ đất sau khi được giao. Ủy ban nhân dân có thẩm quyền giao đất phải chỉ đạo tổ chức phát triển quỹ đất thực hiện nhiệm vụ theo Điều 115 Luật Đất đai 2024 (như bồi thường, giải phóng mặt bằng, chuẩn bị quỹ đất, tổ chức đấu giá...). Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất không chỉ đứng ngoài mà có trách nhiệm phối hợp bảo vệ, chống lấn chiếm, xây dựng trái phép trên quỹ đất này. Như vậy, Điều 113 đặt nền cho một cơ chế quản lý “hai tầng”: cấp tỉnh quyết định và chỉ đạo, tổ chức phát triển quỹ đất thực hiện chuyên môn, cấp xã hỗ trợ quản lý thực địa.

Những nhầm lẫn thường gặp khi áp dụng Điều 113

Một nhầm lẫn phổ biến là cho rằng mọi đất Nhà nước thu hồi đều tự động giao cho tổ chức phát triển quỹ đất. Thực tế, Điều 113 chỉ áp dụng cho các trường hợp và nguồn đất được liệt kê rõ; các trường hợp Nhà nước thu hồi để sử dụng ngay cho công trình công cộng, quốc phòng, an ninh… không mặc nhiên chuyển sang tổ chức phát triển quỹ đất. Nhầm lẫn thứ hai là xem tổ chức phát triển quỹ đất như một “chủ sử dụng đất” bình đẳng với doanh nghiệp, cá nhân; trong khi đây là đơn vị công được giao quản lý, khai thác quỹ đất theo nhiệm vụ, không được tự ý chuyển nhượng, cho thuê ngoài khuôn khổ pháp luật về đất đai và quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Ngoài ra, cần tránh hiểu rằng chỉ cần có quyết định thu hồi là có thể ngay lập tức đưa vào đấu giá, bởi tổ chức phát triển quỹ đất còn phải thực hiện các nghĩa vụ chuẩn bị quỹ đất, xử lý tài sản gắn liền trước khi khai thác.

Lưu ý về quy định chi tiết và văn bản hướng dẫn

Khoản 3 giao Chính phủ quy định chi tiết Điều 113, nên khi áp dụng trong thực tiễn bắt buộc phải đối chiếu thêm với nghị định hướng dẫn về tổ chức phát triển quỹ đất và quản lý quỹ đất. Các vấn đề như mô hình tổ chức, cơ chế tài chính, chi phí quản lý, trình tự tiếp nhận và bàn giao quỹ đất, phương thức khai thác (đấu giá, cho thuê, hợp tác kinh doanh...) sẽ được cụ thể hóa ở cấp nghị định và quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Do đó, trong tư vấn và áp dụng thực tế, Điều 113 cần được đọc kết hợp với Điều 115 Luật Đất đai 2024 và các văn bản hướng dẫn chi tiết tương ứng để đảm bảo đầy đủ căn cứ pháp lý.

Tất cả đất Nhà nước thu hồi có phải đều giao cho tổ chức phát triển quỹ đất theo Điều 113 không?
Không. Chỉ các loại đất thuộc các nguồn nêu tại khoản 1 Điều 113 mới được giao, các trường hợp thu hồi để sử dụng ngay cho mục đích Nhà nước không đương nhiên vào quỹ.
Tổ chức phát triển quỹ đất có phải là chủ sử dụng đất độc lập như doanh nghiệp không?
Không. Đây là đơn vị công được giao quản lý, khai thác quỹ đất theo nhiệm vụ, không phải chủ sử dụng tự do định đoạt như chủ thể dân sự thông thường.
Ai có thẩm quyền giao đất cho tổ chức phát triển quỹ đất theo Điều 113?
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan quyết định giao cho tổ chức phát triển quỹ đất quản lý, khai thác các quỹ đất thuộc các nguồn nêu tại khoản 1 Điều 113.
Ủy ban nhân dân cấp xã có vai trò gì với quỹ đất do tổ chức phát triển quỹ đất quản lý?
Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất phải phối hợp quản lý, bảo vệ quỹ đất, chống lấn chiếm, xây dựng trái phép, hỗ trợ tổ chức phát triển quỹ đất trong quản lý thực địa.
Khi áp dụng Điều 113 cần lưu ý văn bản nào ngoài Luật Đất đai 2024?
Cần đối chiếu thêm với Điều 115 Luật Đất đai 2024 và các nghị định của Chính phủ quy định chi tiết về tổ chức phát triển quỹ đất, quản lý và khai thác quỹ đất.
Mục lục văn bản