Điều 109 Luật Đất đai 2024: Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất
Phân tích Điều 109 Luật Đất đai 2024 về hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm khi Nhà nước thu hồi đất.
Điều 109. Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất
1. Hỗ trợ bằng tiền không quá 05 lần giá đất nông nghiệp cùng loại trong bảng giá đất của địa phương đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp thu hồi nhưng không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương theo quy định tại Điều 176 của Luật này đối với các đối tượng sau đây:
a) Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp đang sử dụng đất nông nghiệp do được Nhà nước giao, nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, nhận tặng cho, được công nhận quyền sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất không có đất để bồi thường và đã được bồi thường bằng tiền;
b) Cá nhân thuộc đối tượng bảo trợ xã hội, đối tượng được hưởng chế độ trợ cấp xã hội hằng tháng theo quy định của pháp luật, thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà không có đất để bồi thường và đã được bồi thường bằng tiền;
c) Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất do nhận giao khoán đất để sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản từ các nông, lâm trường quốc doanh hoặc công ty nông, lâm nghiệp được chuyển đổi từ các nông, lâm trường quốc doanh đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp trên đất đó, trừ trường hợp cá nhân là cán bộ, công nhân viên của nông, lâm trường quốc doanh, của công ty nông, lâm nghiệp được chuyển đổi từ các nông, lâm trường quốc doanh đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp;
d) Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất của tập đoàn sản xuất nông nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp trên đất đó.
2. Người được hỗ trợ theo quy định tại khoản 1 Điều này thì còn được hỗ trợ bằng hình thức đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm theo quy định tại khoản 4 Điều này.
3. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ có nguồn thu nhập ổn định từ hoạt động kinh doanh dịch vụ, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì được vay vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất, kinh doanh và được hỗ trợ theo quy định tại khoản 4 Điều này.
4. Việc tổ chức thực hiện hỗ trợ bằng hình thức đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho người có đất thu hồi là đất nông nghiệp, đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ được quy định như sau:
a) Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan trình Thủ tướng Chính phủ quyết định cơ chế, chính sách giải quyết việc làm và đào tạo nghề cho người có đất thu hồi quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này;
b) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ cơ chế, chính sách giải quyết việc làm và đào tạo nghề đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định và điều kiện thực tế tại địa phương quy định mức hỗ trợ cụ thể phù hợp với từng đối tượng được hỗ trợ quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này; chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện quy định tại điểm c khoản này;
c) Căn cứ kế hoạch sử dụng đất hằng năm cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm lập và tổ chức thực hiện phương án đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm tại địa phương. Phương án đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm được lập và phê duyệt đồng thời với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Trong quá trình lập phương án đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm, Ủy ban nhân dân cấp huyện phải tổ chức lấy ý kiến và có trách nhiệm tiếp thu, giải trình ý kiến của người có đất thu hồi.
5. Mức hỗ trợ cụ thể tại khoản 1 Điều này do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định căn cứ điều kiện thực tế của địa phương.
6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Mục đích và định hướng chính sách
Điều 109 không chỉ bù đắp thiệt hại về đất mà hướng tới bảo đảm sinh kế bền vững cho người bị thu hồi đất. Trọng tâm là hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm, thay cho cách tiếp cận chỉ bồi thường bằng tiền. Quy định này thể hiện yêu cầu gắn thu hồi đất với chính sách việc làm, an sinh xã hội và ổn định đời sống lâu dài của người sử dụng đất.
Các nhóm đối tượng trọng tâm được bảo vệ
Khoản 1 Điều 109 xác định rõ nhóm hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp là đối tượng trọng tâm. Chỉ những người có hoạt động sản xuất thực tế, có nguồn thu nhập ổn định từ đất nông nghiệp mới được hưởng mức hỗ trợ bằng tiền lên đến không quá 05 lần giá đất nông nghiệp cùng loại, trong phạm vi hạn mức giao đất nông nghiệp theo Điều 176 Luật Đất đai 2024.
Quy định ưu tiên thêm cho các nhóm dễ bị tổn thương như đối tượng bảo trợ xã hội, người hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng, thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ khi bị thu hồi đất nông nghiệp và đã được bồi thường bằng tiền. Đây là cách bảo đảm hỗ trợ sâu hơn cho người vừa mất tư liệu sản xuất vừa có hoàn cảnh đặc biệt.
Bên cạnh đó, người nhận giao khoán đất từ nông, lâm trường quốc doanh, công ty nông, lâm nghiệp hoặc từ tập đoàn sản xuất nông nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp – nếu trực tiếp sản xuất và có thu nhập ổn định từ đất – cũng được hưởng hỗ trợ. Quy định này ghi nhận thực tế lâu dài của mô hình nhận khoán, tránh bỏ sót nhóm lao động nông nghiệp “không đứng tên” trên giấy chứng nhận.
Điều kiện “kích hoạt” hỗ trợ bằng tiền
Để được hưởng hỗ trợ bằng tiền theo khoản 1, cần lưu ý một số điều kiện cấu thành quan trọng. Thứ nhất, đất bị thu hồi phải là đất nông nghiệp, và người sử dụng đất phải thuộc các nhóm quy định cụ thể tại các điểm a, b, c, d khoản 1. Thứ hai, trường hợp này chỉ đặt ra khi Không có đất để bồi thường và đã được bồi thường bằng tiền, tức chỉ hỗ trợ bổ sung khi phương án bồi thường không bố trí được đất nông nghiệp thay thế.
Mức hỗ trợ được ấn định theo nguyên tắc trần: không quá 05 lần giá đất nông nghiệp cùng loại trong bảng giá đất, và không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương. Cách thiết kế này tránh biến hỗ trợ thành khoản thu nhập quá lớn, gây chênh lệch bất hợp lý, đồng thời giao cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyền quy định mức cụ thể trên cơ sở điều kiện thực tế (khoản 5).
Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và việc làm
Khoản 2 và khoản 3 nhấn mạnh: người được hỗ trợ bằng tiền theo khoản 1, và người sử dụng đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ phải di chuyển chỗ ở, còn được hưởng thêm hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm. Như vậy, hỗ trợ không dừng lại ở bồi thường – hỗ trợ một lần mà mở ra cơ chế hỗ trợ tái thiết sinh kế sau thu hồi đất.
Đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ có thu nhập ổn định, khi bị thu hồi đất dẫn đến phải di dời chỗ ở, ngoài hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề còn được vay vốn tín dụng ưu đãi để tiếp tục sản xuất, kinh doanh. Đây là chính sách quan trọng đối với nhóm hộ kinh doanh nhỏ, hộ kinh doanh tại nhà, tránh đứt gãy hoạt động kinh tế gia đình.
Cơ chế tổ chức thực hiện và trách nhiệm cơ quan nhà nước
Khoản 4 thiết lập cơ chế phân công trách nhiệm ba tầng. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chủ trì xây dựng cơ chế, chính sách đào tạo nghề, giải quyết việc làm trình Thủ tướng Chính phủ quyết định, bảo đảm khung chính sách thống nhất trên toàn quốc. Trên cơ sở đó, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành mức hỗ trợ cụ thể phù hợp điều kiện địa phương, thể hiện tính linh hoạt, phân cấp.
Ủy ban nhân dân cấp huyện là cơ quan “thực thi cuối” với nghĩa vụ lập và tổ chức thực hiện phương án đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm, đồng thời phải lập, phê duyệt phương án này đồng bộ với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Quy định phải lấy ý kiến, tiếp thu, giải trình ý kiến người có đất thu hồi tạo cơ chế tham vấn bắt buộc, hạn chế tình trạng làm hình thức, không sát nhu cầu thực tế của người dân.
Những hiểu sai thường gặp và lưu ý áp dụng
Một hiểu sai phổ biến là cho rằng “bị thu hồi bất kỳ loại đất nào cũng được hỗ trợ chuyển đổi nghề theo Điều 109”. Trên thực tế, Điều 109 nhắm tới đất nông nghiệp và đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ trong những điều kiện rất cụ thể; các loại đất khác phải đối chiếu điều luật có liên quan. Một nhầm lẫn khác là coi mức hỗ trợ bằng tiền 05 lần giá đất nông nghiệp là mức cố định, trong khi điều luật chỉ quy định mức tối đa, còn mức cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định.
Khi tư vấn hoặc áp dụng, cần kiểm tra kỹ: (i) tư cách “trực tiếp sản xuất nông nghiệp” và nguồn thu nhập ổn định từ đất; (ii) tình trạng “không có đất để bồi thường và đã được bồi thường bằng tiền”; (iii) quy định chi tiết của Chính phủ và văn bản của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về mức hỗ trợ, điều kiện vay vốn ưu đãi, chương trình đào tạo nghề cụ thể. Việc bỏ qua các yếu tố này dễ dẫn đến tranh chấp, khiếu nại về chính sách hỗ trợ.