Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: Xác minh, thu thập chứng cứ
Bình luận Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 về xác minh, thu thập chứng cứ, quyền của đương sự và thẩm quyền hỗ trợ của Tòa án, Viện kiểm sát.
Điều 97. Xác minh, thu thập chứng cứ
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình thu thập tài liệu, chứng cứ bằng những biện pháp sau đây:
a) Thu thập tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được; thông điệp dữ liệu điện tử;
b) Thu thập vật chứng;
c) Xác định người làm chứng và lấy xác nhận của người làm chứng;
d) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cho sao chép hoặc cung cấp những tài liệu có liên quan đến việc giải quyết vụ việc mà cơ quan, tổ chức, cá nhân đó đang lưu giữ, quản lý;
đ) Yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp xã chứng thực chữ ký của người làm chứng;
e) Yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ nếu đương sự không thể thu thập tài liệu, chứng cứ;
g) Yêu cầu Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định, định giá tài sản;
h) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện công việc khác theo quy định của pháp luật.
2. Trong các trường hợp do Bộ luật này quy định, Tòa án có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập tài liệu, chứng cứ:
a) Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng;
b) Đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng;
c) Trưng cầu giám định;
d) Định giá tài sản;
đ) Xem xét, thẩm định tại chỗ;
e) Ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ;
g) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự;
h) Xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú;
i) Các biện pháp khác theo quy định của Bộ luật này.
3. Khi tiến hành các biện pháp quy định tại các điểm c, d, đ, e và g khoản 2 Điều này, Tòa án phải ra quyết định, trong đó nêu rõ lý do và yêu cầu của Tòa án.
4. Trong giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm, Thẩm tra viên có thể tiến hành các biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ quy định tại các điểm a, g và h khoản 2 Điều này.
Khi Thẩm tra viên tiến hành biện pháp quy định tại điểm g khoản 2 Điều này, Tòa án phải ra quyết định, trong đó nêu rõ lý do và yêu cầu của Tòa án.
5. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án thu thập được tài liệu, chứng cứ, Tòa án phải thông báo về tài liệu, chứng cứ đó cho đương sự để họ thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình.
6. Viện kiểm sát thu thập tài liệu, chứng cứ để bảo đảm cho việc thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.
Mục đích và định hướng của Điều 97
Điều 97 được xây dựng nhằm làm rõ cơ chế thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự theo hướng đề cao trách nhiệm chứng minh của đương sự nhưng vẫn bảo đảm vai trò hỗ trợ của Tòa án và Viện kiểm sát. Quy định này gắn với nguyên tắc đương sự có nghĩa vụ chứng minh và chịu hậu quả của việc không chứng minh, đồng thời tránh tình trạng Tòa án bị động chờ tài liệu mà không có công cụ chủ động xác minh. Nhờ đó, hoạt động thu thập chứng cứ mang tính kết hợp giữa quyền tự định đoạt của đương sự và chức năng bảo đảm công lý của cơ quan tiến hành tố tụng.
Phân định quyền thu thập chứng cứ của đương sự và thẩm quyền của Tòa án
Khoản 1 nhấn mạnh đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có quyền tự mình thu thập chứng cứ bằng các biện pháp cụ thể, từ tài liệu truyền thống đến thông điệp dữ liệu điện tử, vật chứng, lời khai nhân chứng. Đây là sự cụ thể hóa nguyên tắc tranh tụng và tự chịu trách nhiệm về chứng cứ do mình xuất trình. Tuy nhiên, khi đương sự không thể thu thập do yếu tố khách quan, họ được quyền yêu cầu Tòa án hỗ trợ như yêu cầu thu thập tài liệu, trưng cầu giám định, định giá tài sản. Cấu trúc này cho thấy nhà làm luật không chuyển nghĩa vụ chứng minh sang Tòa án mà chỉ mở cơ chế hỗ trợ trong giới hạn nhất định.
Các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án
Khoản 2 liệt kê hệ thống biện pháp Tòa án có thể sử dụng: lấy lời khai, đối chất, trưng cầu giám định, định giá, xem xét thẩm định tại chỗ, ủy thác thu thập chứng cứ, yêu cầu cung cấp tài liệu, xác minh tình trạng cư trú và các biện pháp khác theo Bộ luật. Danh mục này vừa mang tính liệt kê vừa mang tính mở, nhưng giới hạn bởi các quy định tố tụng khác, tránh việc Tòa án tùy tiện áp dụng biện pháp ngoài khuôn khổ. Chỉ trong những trường hợp luật định, Tòa án mới được chủ động dùng các công cụ này để làm sáng tỏ sự thật khách quan, không phải trong mọi vụ việc đều buộc phải thực hiện đầy đủ tất cả các biện pháp.
Yêu cầu ra quyết định khi áp dụng một số biện pháp
Khoản 3 yêu cầu Tòa án phải ra quyết định nêu rõ lý do và yêu cầu khi áp dụng các biện pháp có mức độ can thiệp cao như trưng cầu giám định, định giá, xem xét thẩm định tại chỗ, ủy thác thu thập chứng cứ, yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu. Quy định này nhằm bảo đảm tính minh bạch, kiểm soát quyền lực tư pháp và tạo căn cứ để đương sự, cơ quan, tổ chức liên quan hiểu rõ phạm vi nghĩa vụ phối hợp. Việc ra quyết định còn là cơ sở để kiểm tra, giám sát việc thực hiện trong giai đoạn phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.
Vai trò của Thẩm tra viên trong giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm
Khoản 4 cho phép Thẩm tra viên trong giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm tiến hành một số biện pháp thu thập chứng cứ như lấy lời khai, yêu cầu cung cấp tài liệu, xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú. Cơ chế này giúp khắc phục hạn chế về hồ sơ, làm rõ nội dung khi xem xét kháng nghị đặc biệt. Tuy nhiên, khi Thẩm tra viên đề nghị yêu cầu cung cấp tài liệu, Tòa án vẫn phải ra quyết định với nội dung, lý do cụ thể, bảo đảm thẩm quyền và trách nhiệm phân minh giữa Thẩm phán, Thẩm tra viên.
Thông báo tài liệu, chứng cứ thu thập được cho đương sự
Khoản 5 đặt ra nghĩa vụ Tòa án phải thông báo cho đương sự về tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thu thập được. Đây là điểm then chốt bảo đảm quyền tranh tụng, quyền tiếp cận chứng cứ và tránh tình trạng đương sự bị bất ngờ tại phiên tòa. Nếu Tòa án vi phạm nghĩa vụ thông báo, việc sử dụng tài liệu đó có thể bị xem xét là vi phạm tố tụng ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự và làm căn cứ kháng cáo, kháng nghị.
Vai trò của Viện kiểm sát trong thu thập chứng cứ
Khoản 6 xác định Viện kiểm sát thu thập tài liệu, chứng cứ nhằm bảo đảm thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. Như vậy, Viện kiểm sát không thay thế nghĩa vụ chứng minh của đương sự mà thu thập chứng cứ trong giới hạn chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp và kháng nghị bản án, quyết định có vi phạm pháp luật. Đây là cơ chế đối trọng, bảo đảm tính khách quan của việc giải quyết vụ việc dân sự.
Nhầm lẫn thường gặp khi áp dụng Điều 97
Thứ nhất, nhiều đương sự cho rằng Tòa án phải tự động thu thập toàn bộ chứng cứ liên quan, dẫn đến tâm lý thụ động, không chủ động tìm kiếm tài liệu, chứng cứ. Điều 97 chỉ cho phép Tòa án hỗ trợ khi đương sự không thể thu thập, không làm thay nghĩa vụ chứng minh. Thứ hai, một số cơ quan, tổ chức, cá nhân nhầm tưởng yêu cầu cung cấp tài liệu của Tòa án hoặc đương sự là tùy nghi đáp ứng, trong khi pháp luật tố tụng và pháp luật chuyên ngành thường đặt ra nghĩa vụ phối hợp, trừ trường hợp tài liệu thuộc bí mật nhà nước, bí mật nghề nghiệp hoặc đời sống riêng tư được pháp luật bảo vệ. Thứ ba, có trường hợp Tòa án thu thập chứng cứ nhưng không thông báo hoặc thông báo chậm cho đương sự, dẫn đến tranh luận về giá trị sử dụng tài liệu tại phiên tòa.
Lưu ý khi vận dụng Điều 97 trong thực tiễn
Khi yêu cầu Tòa án hỗ trợ thu thập chứng cứ, đương sự cần trình bày rõ lý do vì sao mình không thể tự thu thập, kèm theo các tài liệu, chứng cứ về việc đã nỗ lực nhưng không đạt kết quả. Điều này giúp Tòa án có căn cứ xem xét, tránh việc lạm dụng yêu cầu Tòa án thay mình thực hiện nghĩa vụ chứng minh. Tòa án khi áp dụng các biện pháp quy định tại Điều 97 cần lập hồ sơ, quyết định, biên bản đầy đủ, đúng mẫu biểu để bảo đảm tính hợp pháp của chứng cứ thu thập. Các chủ thể liên quan nên lưu ý thời hạn 03 ngày thông báo tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập để kịp thời thực hiện quyền giải trình, phản bác, yêu cầu thu thập bổ sung, bảo vệ tốt nhất quyền lợi của mình.