Điều 95 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: Xác định chứng cứ
Bình luận Điều 95 BLTTDS 2015 về xác định chứng cứ, điều kiện hợp lệ của từng loại nguồn chứng cứ và lưu ý áp dụng trong tố tụng dân sự.
Điều 95. Xác định chứng cứ
1. Tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận.
2. Tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo văn bản trình bày của người có tài liệu đó về xuất xứ của tài liệu nếu họ tự thu âm, thu hình hoặc văn bản có xác nhận của người đã cung cấp cho người xuất trình về xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó.
3. Thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.
4. Vật chứng là chứng cứ phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc.
5. Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng được coi là chứng cứ nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình, thiết bị khác chứa âm thanh, hình ảnh theo quy định tại khoản 2 Điều này hoặc khai bằng lời tại phiên tòa.
6. Kết luận giám định được coi là chứng cứ nếu việc giám định đó được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
7. Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc thẩm định được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
8. Kết quả định giá tài sản, kết quả thẩm định giá tài sản được coi là chứng cứ nếu việc định giá, thẩm định giá được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
9. Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc lập văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
10. Văn bản công chứng, chứng thực được coi là chứng cứ nếu việc công chứng, chứng thực được thực hiện theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
11. Các nguồn khác mà pháp luật có quy định được xác định là chứng cứ theo điều kiện, thủ tục mà pháp luật quy định.
Mục đích và ý nghĩa của Điều 95
Điều 95 đặt ra tiêu chuẩn tối thiểu để một thông tin được coi là chứng cứ hợp pháp trong tố tụng dân sự. Quy định này nhằm bảo đảm tính xác thực, tin cậy và kiểm chứng được của chứng cứ, tránh tình trạng Tòa án dựa trên tài liệu, dữ liệu không rõ nguồn gốc. Đồng thời, điều luật đóng vai trò là “sơ đồ” nhận diện các nguồn chứng cứ, giúp đương sự biết phải thu thập, hợp thức hóa chứng cứ theo đúng trình tự, thủ tục.
Nhóm nguồn chứng cứ và điều kiện hợp lệ
Tài liệu đọc được nội dung (khoản 1)
Tài liệu như hợp đồng, giấy tờ, văn bản hành chính chỉ được coi là chứng cứ khi là bản chính hoặc bản sao hợp pháp (công chứng, chứng thực, do cơ quan có thẩm quyền cung cấp/xác nhận). Điều này bảo đảm sự toàn vẹn, hạn chế nguy cơ chỉnh sửa, cắt xén. Người áp dụng thường cần lưu ý: bản scan, bản photo tự in ra không kèm chứng thực thường không đủ giá trị chứng cứ, trừ khi được đối phương thừa nhận hoặc được kiểm tra, đối chiếu trong quá trình tố tụng.
Tài liệu nghe nhìn (khoản 2)
Ghi âm, ghi hình chỉ có giá trị khi kèm theo văn bản trình bày về xuất xứ hoặc văn bản xác nhận của người cung cấp. Trọng tâm nằm ở việc “gắn danh tính” và bối cảnh cho dữ liệu nghe nhìn, để Tòa án có thể kiểm tra: ai ghi, ghi lúc nào, trong hoàn cảnh nào. Hiểu sai thường gặp là cho rằng chỉ cần giao nộp file ghi âm/ghi hình là đủ; trên thực tế, thiếu văn bản trình bày xuất xứ sẽ làm suy giảm đáng kể giá trị chứng minh.
Thông điệp dữ liệu điện tử (khoản 3)
Thông điệp dữ liệu điện tử được thừa nhận là nguồn chứng cứ tương đương tài liệu giấy, bao gồm: trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, email, fax và hình thức tương tự theo pháp luật giao dịch điện tử. Ý nghĩa thực tiễn là các bên cần lưu giữ đầy đủ log hệ thống, tiêu đề, thời gian gửi, địa chỉ email, meta-data để khi cần, Tòa án có thể thẩm định được tính toàn vẹn và xuất xứ của thông điệp.
Vật chứng (khoản 4)
Vật chứng phải là hiện vật gốc liên quan vụ việc. Tòa án ưu tiên hiện vật gốc để trực tiếp xem xét dấu vết, tình trạng, đặc điểm. Trường hợp không thể giao nộp hiện vật gốc (do hư hỏng, đã chuyển giao…), bên đương sự thường phải kết hợp biên bản, hình ảnh, giám định… để chứng minh trước đó hiện vật tồn tại và có liên quan, song giá trị vẫn thấp hơn so với việc xuất trình trực tiếp vật chứng gốc.
Lời khai của đương sự, người làm chứng (khoản 5)
Lời khai chỉ được coi là chứng cứ nếu được ghi nhận đúng hình thức: văn bản, bản ghi âm/ghi hình theo khoản 2 hoặc khai trực tiếp tại phiên tòa. Điều này nhấn mạnh vai trò của việc lập biên bản lấy lời khai đúng thủ tục. Tin nhắn, cuộc trò chuyện không chính thức, nếu không được lập thành biên bản hoặc ghi nhận theo đúng trình tự, sẽ khó được thừa nhận như chứng cứ độc lập, mà chủ yếu chỉ mang tính tham khảo nếu không đáp ứng điều kiện về hình thức.
Kết luận giám định, thẩm định, định giá (khoản 6, 7, 8)
Các kết luận giám định, biên bản thẩm định tại chỗ, kết quả định giá chỉ có giá trị chứng cứ khi đúng thẩm quyền, đúng thủ tục. Trọng tâm là: cơ quan/đơn vị thực hiện phải có thẩm quyền theo luật chuyên ngành; trình tự trưng cầu, yêu cầu, thông báo phải tuân thủ quy định. Nếu quy trình bị vi phạm đáng kể (sai chủ thể, sai trình tự, thiếu thành phần bắt buộc…), kết luận thu được dễ bị tranh chấp, yêu cầu giám định/định giá lại.
Văn bản ghi nhận sự kiện, văn bản công chứng/chứng thực (khoản 9, 10)
Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý và văn bản công chứng, chứng thực được coi là chứng cứ khi người có chức năng lập và thực hiện đúng thủ tục theo luật. Các văn bản này thường có giá trị chứng minh mạnh, vì được suy đoán là phản ánh trung thực sự kiện, trừ khi có căn cứ chứng minh bị vô hiệu, giả mạo hoặc lập sai thẩm quyền, sai hình thức. Khi tranh chấp, muốn phủ nhận giá trị của chúng, bên phản đối phải đưa ra căn cứ chứng minh rõ ràng.
Các nguồn chứng cứ khác (khoản 11)
Khoản 11 đóng vai trò “mở”, cho phép pháp luật chuyên ngành hoặc văn bản khác quy định thêm nguồn chứng cứ mới (ví dụ dữ liệu từ cơ sở dữ liệu chuyên ngành, hồ sơ hành chính điện tử…). Ý nghĩa là hệ thống chứng cứ luôn cập nhật theo sự phát triển công nghệ và thực tiễn, nhưng vẫn phải tuân thủ điều kiện và thủ tục do pháp luật liên quan quy định.
Những hiểu sai thường gặp và lưu ý áp dụng
Một nhầm lẫn phổ biến là đồng nhất “mọi thông tin liên quan vụ việc” với “chứng cứ hợp pháp”. Điều 95 cho thấy, chỉ thông tin được thể hiện qua nguồn chứng cứ đúng chuẩn mực hình thức và thủ tục mới có giá trị. Ngoài ra, nhiều bên hiểu sai khi cho rằng chứng cứ không hợp lệ thì Tòa “không được xem xét”; trên thực tế, Tòa án vẫn có thể tiếp nhận nhưng giá trị chứng minh sẽ bị đánh giá rất thấp hoặc không được dùng làm căn cứ ra phán quyết.
Trong thực tiễn, khi thu thập chứng cứ, đương sự cần chú trọng hai lớp điều kiện: (i) nguồn chứng cứ thuộc một trong các loại được Điều 95 thừa nhận; (ii) quá trình hình thành, lập, xác nhận nguồn chứng cứ phải đúng thẩm quyền, đúng trình tự luật định. Khi có nghi ngờ về giá trị chứng cứ của phía đối lập (ví dụ: ghi âm không rõ xuất xứ, bản sao không chứng thực, kết luận giám định từ tổ chức không có thẩm quyền), cần kịp thời nêu ý kiến, yêu cầu đối chiếu, giám định, xác minh để bảo vệ quyền lợi.