Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: Nghĩa vụ chứng minh
Phân tích Điều 91 BLTTDS 2015 về nghĩa vụ chứng minh, các ngoại lệ bảo vệ người tiêu dùng, người lao động và lưu ý áp dụng thực tiễn.
Điều 91. Nghĩa vụ chứng minh
1. Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp, trừ các trường hợp sau đây:
a) Người tiêu dùng khởi kiện không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bị kiện có nghĩa vụ chứng minh mình không có lỗi gây ra thiệt hại theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;
b) Đương sự là người lao động trong vụ án lao động mà không cung cấp, giao nộp được cho Tòa án tài liệu, chứng cứ vì lý do tài liệu, chứng cứ đó đang do người sử dụng lao động quản lý, lưu giữ thì người sử dụng lao động có trách nhiệm cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ đó cho Tòa án.
Người lao động khởi kiện vụ án đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thuộc trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc trường hợp không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động theo quy định của pháp luật về lao động thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về người sử dụng lao động;
c) Các trường hợp pháp luật có quy định khác về nghĩa vụ chứng minh.
2. Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó.
3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước hoặc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho việc khởi kiện, yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.
Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
4. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc.
Trọng tâm của Điều 91: bên khởi kiện, bên phản đối phải tự chứng minh
Điều 91 khẳng định nguyên tắc nền tảng: ai yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình hoặc cho người khác thì phải thu thập, cung cấp, giao nộp chứng cứ chứng minh yêu cầu đó có căn cứ và hợp pháp. Nghĩa vụ chứng minh không chỉ áp dụng cho nguyên đơn, người có yêu cầu độc lập, mà còn cho cơ quan, tổ chức khởi kiện bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Đồng thời, người phản đối yêu cầu cũng phải thể hiện bằng văn bản và kèm chứng cứ chứng minh cho sự phản đối. Như vậy, nghĩa vụ chứng minh được phân bổ song song cho cả bên yêu cầu và bên phản đối.
Các ngoại lệ bảo vệ bên yếu thế và trường hợp pháp luật chuyên ngành
Người tiêu dùng, tổ chức xã hội bảo vệ người tiêu dùng
Điểm a khoản 1 và đoạn cuối khoản 3 Điều 91 thiết lập ngoại lệ quan trọng: người tiêu dùngtổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Người lao động trong vụ án lao động
Điểm b khoản 1 Điều 91 tạo cơ chế bảo vệ người lao động trong tố tụng lao động. Khi tài liệu, chứng cứ đang do người sử dụng lao động quản lý, lưu giữ mà người lao động không thể tự cung cấp, nghĩa vụ giao nộp thuộc về người sử dụng lao động. Đặc biệt, khi người lao động khởi kiện liên quan đến trường hợp người sử dụng lao động bị cấm đơn phương chấm dứt hợp đồng hoặc cấm xử lý kỷ luật lao động theo pháp luật lao động, nghĩa vụ chứng minh thuộc về người sử dụng lao động. Đây là ngoại lệ mang tính định hướng chính sách, bảo đảm cân bằng vị thế giữa các bên trong quan hệ lao động.
Trường hợp pháp luật có quy định khác
Điểm c khoản 1 giữ vai trò “cửa mở” cho các đạo luật chuyên ngành. Khi pháp luật chuyên ngành (ví dụ Luật Bảo hiểm, Luật Thương mại, Luật Hôn nhân và gia đình…) có quy định khác về nghĩa vụ chứng minh, thì quy định chuyên ngành đó được ưu tiên áp dụng. Điều 91 vì vậy chỉ là khung chung về phân bổ nghĩa vụ chứng minh, luôn cần được đọc phối hợp với luật nội dung có liên quan đến từng tranh chấp cụ thể.
Hậu quả pháp lý khi không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ chứng minh
Khoản 4 Điều 91 đặt ra hậu quả rõ ràng: nếu đương sự có nghĩa vụ chứng minh mà không đưa ra được hoặc đưa ra không đủ chứng cứ, Tòa án sẽ giải quyết vụ việc dựa trên hệ thống chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ. Quy định này không cho phép Tòa án suy đoán có lợi cho bên không thực hiện nghĩa vụ chứng minh, mà nhấn mạnh rủi ro tố tụng: bên nào chịu nghĩa vụ chứng minh nhưng không thực hiện đầy đủ thì phải chấp nhận phán quyết được xây dựng trên phần chứng cứ hiện có.
Những hiểu sai thường gặp về nghĩa vụ chứng minh
Một nhầm lẫn phổ biến là cho rằng “Tòa án phải chủ động chứng minh tất cả”. Điều 91 chỉ yêu cầu Tòa án đánh giá chứng cứ do các bên cung cấp và chứng cứ Tòa án thu thập theo thẩm quyền, nhưng không chuyển nghĩa vụ chứng minh từ đương sự sang Tòa án. Một nhầm lẫn khác là coi ngoại lệ dành cho người tiêu dùng và người lao động như đương nhiên thắng kiện; trên thực tế, ngoại lệ chỉ liên quan đến yếu tố lỗinguồn lưu giữ chứng cứ
Lưu ý khi áp dụng Điều 91 trong thực tiễn
Thứ nhất, cần xác định đúng tư cách tố tụng (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức khởi kiện…) để phân bổ nghĩa vụ chứng minh tương ứng. Thứ hai, phải rà soát pháp luật chuyên ngành để phát hiện các quy định đặc thù về nghĩa vụ chứng minh có thể làm thay đổi cơ chế chung của Điều 91. Thứ ba, trong tranh chấp lao động và tiêu dùng, luật sư và đương sự nên tận dụng cơ chế ngoại lệ: yêu cầu người sử dụng lao động, bên kinh doanh thực hiện nghĩa vụ chứng minh hoặc cung cấp chứng cứ theo luật, thay vì cố gắng thu thập những dữ liệu mà bản thân không thể tiếp cận. Cuối cùng, cần chủ động xây dựng chiến lược chứng cứ ngay từ giai đoạn tiền tố tụng, bởi rủi ro “không đủ chứng cứ” theo khoản 4 Điều 91 thường là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thất bại trong tranh chấp dân sự.