Điều 60 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: Thay đổi Kiểm sát viên, Kiểm tra viên

Bình luận pháp lý Điều 60 BLTTDS 2015 về thay đổi Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, điều kiện từ chối, tránh xung đột lợi ích.

Điều 60. Thay đổi Kiểm sát viên, Kiểm tra viên

Kiểm sát viên, Kiểm tra viên phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong những trường hợp sau đây:

1. Thuộc một trong những trường hợp quy định tại Điều 52 của Bộ luật này.

2. Họ đã là người tiến hành tố tụng trong vụ việc đó với tư cách là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên.

Trọng tâm quy định và mục đích bảo vệ tính khách quan

Điều 60 thiết lập cơ chế bắt buộc từ chối hoặc thay đổi đối với Kiểm sát viên, Kiểm tra viên trong những trường hợp có nguy cơ ảnh hưởng đến tính khách quan, vô tư khi thực hiện chức năng kiểm sát trong vụ việc. Trọng tâm là ngăn chặn xung đột lợi ích và tránh tình trạng người đã tham gia giải quyết vụ việc ở một vai trò tố tụng khác tiếp tục can dự, dẫn đến kết quả không công bằng. Quy định này gắn với nguyên tắc độc lập, chỉ tuân theo pháp luật và bảo đảm sự công bằng giữa các bên trong tố tụng dân sự.

Điều kiện làm phát sinh nghĩa vụ từ chối, thay đổi

Nhóm điều kiện theo Điều 52 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015

Khoản 1 Điều 60 dẫn chiếu toàn bộ các trường hợp người tiến hành tố tụng phải từ chối, bị thay đổi theo Điều 52 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Theo đó, nếu Kiểm sát viên, Kiểm tra viên thuộc một trong các trường hợp như có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ việc; là người thân thích với đương sự hoặc với người tiến hành tố tụng khác; đã tham gia với tư cách người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, đại diện, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch… thì bắt buộc phải từ chối hoặc bị thay đổi. Đây là nhóm điều kiện phản ánh trực tiếp nguy cơ xung đột lợi ích và thiên vị.

Nhóm điều kiện về tiền lệ tham gia tố tụng trong cùng vụ việc

Khoản 2 Điều 60 xác định thêm trường hợp Kiểm sát viên, Kiểm tra viên đã từng là người tiến hành tố tụng trong chính vụ việc đó với tư cách Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên. Khi đã đảm nhiệm một vai trò tố tụng trước đó, họ không được tiếp tục giữ vai trò Kiểm sát viên, Kiểm tra viên trong cùng vụ việc, nhằm loại bỏ khả năng tự kiểm tra, tự đánh giá lại hoạt động của mình, bảo đảm sự phân tách chức năng giữa Tòa án và Viện kiểm sát cũng như sự độc lập giữa các giai đoạn tố tụng.

Những cách hiểu sai thường gặp và lưu ý áp dụng

Không phải mọi quan hệ quen biết đều là căn cứ thay đổi

Một nhầm lẫn phổ biến là cho rằng chỉ cần có quan hệ quen biết, đã từng làm việc chung là đủ căn cứ yêu cầu thay đổi Kiểm sát viên, Kiểm tra viên. Trên thực tế, điều kiện thay đổi phải thuộc các trường hợp cụ thể nêu tại Điều 52 hoặc từng tham gia tố tụng trong chính vụ việc đó ở vai trò được liệt kê tại khoản 2 Điều 60. Quan hệ xã hội thông thường, không gắn với quyền lợi, nghĩa vụ hoặc mối quan hệ thân thích theo luật, không tự động làm phát sinh nghĩa vụ thay đổi.

Không cho phép "chuyển vai trò" trong cùng vụ việc

Một nhầm lẫn khác là coi việc Kiểm sát viên, Kiểm tra viên đã từng làm Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án trong cùng vụ việc là thuận lợi vì nắm rõ hồ sơ nên vẫn có thể tiếp tục tham gia. Điều 60 xác định rõ đây chính là căn cứ bắt buộc phải thay đổi, bởi sự am hiểu hồ sơ xuất phát từ vai trò tố tụng trước đó dễ dẫn đến thiên lệch, đồng thời làm mờ ranh giới chức năng giữa các cơ quan tiến hành tố tụng. Việc "chuyển vai" trong cùng vụ việc là bị cấm, không phải là ưu thế thủ tục.

Lưu ý thực tiễn khi yêu cầu thay đổi Kiểm sát viên, Kiểm tra viên

Thứ nhất, khi phát hiện Kiểm sát viên, Kiểm tra viên thuộc một trong các trường hợp tại Điều 52 hoặc đã từng là người tiến hành tố tụng trong vụ việc đó, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cần chủ động nêu rõ căn cứ pháp lý, dẫn cụ thể khoản, điều liên quan kèm theo chứng cứ. Việc yêu cầu thay đổi phải dựa trên các tình tiết có thể kiểm chứng, tránh lập luận chung chung về "thiếu khách quan" mà không gắn với trường hợp luật định.

Thứ hai, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên có nghĩa vụ tự mình xem xét, từ chối khi thuộc trường hợp bị thay đổi, không chờ yêu cầu của đương sự. Đây là cơ chế tự bảo vệ uy tín, tính độc lập của hoạt động kiểm sát, đồng thời giảm bớt tranh chấp về thủ tục. Nếu họ không tự từ chối, Tòa án hoặc Viện kiểm sát có trách nhiệm xem xét và quyết định thay đổi theo thẩm quyền.

Thứ ba, trong thực Tiễn, cần phân biệt việc thay đổi vì lý do luật định với các tranh chấp, khiếu nại về chất lượng thực hiện nhiệm vụ (ví dụ: kiểm sát không đầy đủ, chậm trễ). Những phàn nàn về chuyên môn, nghiệp vụ không thuộc phạm vi Điều 60 mà được giải quyết bằng cơ chế khiếu nại, kiến nghị khác trong tố tụng dân sự và trong nội bộ ngành Kiểm sát. Điều 60 chỉ điều chỉnh các tình huống xung đột lợi ích và tiền lệ tham gia tố tụng có thể làm sai lệch tính khách quan.

Khi nào Kiểm sát viên bắt buộc phải từ chối tiến hành tố tụng theo Điều 60?
Khi thuộc một trong các trường hợp về xung đột lợi ích, quan hệ thân thích, tham gia vụ việc với tư cách khác theo Điều 52 hoặc đã từng là người tiến hành tố tụng trong chính vụ đó.
Đương sự có quyền yêu cầu thay đổi Kiểm sát viên, Kiểm tra viên không?
Đương sự có quyền yêu cầu thay đổi nếu có căn cứ chứng minh Kiểm sát viên, Kiểm tra viên thuộc trường hợp quy định tại Điều 52 hoặc đã từng tham gia tố tụng trong vụ việc với vai trò nêu tại Điều 60.
Quan hệ quen biết thông thường với đương sự có đủ làm căn cứ thay đổi Kiểm sát viên không?
Quan hệ quen biết thông thường, không phải quan hệ thân thích hoặc gắn với quyền lợi, nghĩa vụ trong vụ việc, không tự động là căn cứ thay đổi; phải đối chiếu với các trường hợp cụ thể của Điều 52.
Kiểm sát viên từng là Thẩm phán trong cùng vụ việc có được tiếp tục tham gia không?
Không. Điều 60 quy định rõ nếu đã là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án trong chính vụ đó thì bắt buộc phải thay đổi, không được tiếp tục làm Kiểm sát viên.
Nếu Kiểm sát viên không tự từ chối dù thuộc trường hợp phải thay đổi, xử lý thế nào?
Đương sự hoặc người bảo vệ quyền lợi hợp pháp có thể yêu cầu thay đổi; đồng thời Tòa án hoặc Viện kiểm sát phải xem xét, quyết định việc thay đổi để bảo đảm tính khách quan và đúng thủ tục.
Mục lục văn bản