Điều 517 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: Hiệu lực thi hành

Bình luận pháp lý Điều 517 BLTTDS 2015 về hiệu lực thi hành, ngoại lệ và lưu ý khi xác định pháp luật tố tụng áp dụng.

Điều 517. Hiệu lực thi hành

1. Bộ luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2016, trừ các quy định sau đây của Bộ luật này có liên quan đến quy định của Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13 thì có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2017:

a) Quy định liên quan đến việc Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 4, các Điều 43, 44 và 45 của Bộ luật này;

b) Quy định liên quan đến người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;

c) Quy định liên quan đến áp dụng thời hiệu tại khoản 2 Điều 184 và điểm e khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này;

d) Quy định liên quan đến pháp nhân là người đại diện, người giám hộ.

2. Bộ luật tố tụng dân sự số 24/2004/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 65/2011/QH12 hết hiệu lực kể từ ngày Bộ luật này có hiệu lực thi hành, trừ các quy định tại Điều 159 và điểm h khoản 1 Điều 192 tiếp tục có hiệu lực thi hành đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2016.

Bộ luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 25 tháng 11 năm 2015.

Vị trí, mục đích của quy định về hiệu lực thi hành

Điều 517 là điều khoản xác định thời điểm Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 có hiệu lực và cơ chế chuyển tiếp giữa pháp luật tố tụng cũ và mới. Mục tiêu trọng tâm là bảo đảm sự chuyển đổi có trật tự, tránh khoảng trống pháp lý, đặc biệt với các quy định có liên quan chặt chẽ đến Bộ luật Dân sự 2015. Người áp dụng pháp luật cần xem Điều 517 như “bản đồ thời gian” để biết văn bản nào đang điều chỉnh thủ tục giải quyết vụ việc dân sự, hành chính tại từng thời điểm cụ thể.

Thời điểm hiệu lực chung và các nhóm quy định ngoại lệ

Khoản 1 xác định Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 có hiệu lực từ ngày 01/7/2016, nhưng đồng thời thiết lập một số ngoại lệ quan trọng lùi hiệu lực đến ngày 01/01/2017. Các ngoại lệ này đều gắn với việc đồng bộ hóa với Bộ luật Dân sự 2015, bao gồm: quy định về việc Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì chưa có điều luật để áp dụng; quy định về người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; quy định về áp dụng thời hiệu; và quy định liên quan đến pháp nhân là người đại diện, người giám hộ.

Trọng tâm cần nắm là: trong khoảng thời gian từ 01/7/2016 đến 31/12/2016, đối với các nhóm vấn đề nêu trên, không áp dụng quy định mới của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 nếu chúng gắn với Bộ luật Dân sự 2015 chỉ có hiệu lực từ 01/01/2017. Khi đó, người hành nghề phải tra cứu song song quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và tình trạng hiệu lực của Bộ luật Dân sự 2015 để xác định chính xác cơ chế pháp lý áp dụng.

Quan hệ giữa Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và 2004

Khoản 2 Điều 517 quy định chấm dứt hiệu lực của Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011) kể từ ngày Bộ luật 2015 có hiệu lực, ngoại trừ một số điều khoản được duy trì đến hết ngày 31/12/2016. Cụ thể, Điều 159 và điểm h khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2004 vẫn tiếp tục được áp dụng đến hết ngày 31/12/2016, nhằm bảo đảm sự thống nhất với các quy định về thời hiệu, về căn cứ trả lại đơn khởi kiện trong hệ thống pháp luật hiện hành ở giai đoạn chuyển tiếp.

Điểm hay bị bỏ qua trong thực tiễn là sự tồn tại song song, có giới hạn về thời gian, của một số quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 bên cạnh Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Nếu không chú ý mốc hết hiệu lực là ngày 31/12/2016, việc áp dụng nhầm quy định cũ sau thời điểm này sẽ dẫn đến sai lầm tố tụng, ảnh hưởng đến việc xác định thời hiệu khởi kiện hoặc tính hợp lệ của đơn khởi kiện.

Những nhầm lẫn thường gặp khi xác định pháp luật áp dụng

Nhầm lẫn giữa ngày hiệu lực chung và ngày hiệu lực của ngoại lệ

Một nhầm lẫn phổ biến là đồng nhất mọi nội dung của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 với mốc hiệu lực 01/7/2016, bỏ qua các ngoại lệ lùi hiệu lực đến 01/01/2017. Hậu quả là trong giai đoạn nửa cuối năm 2016, một số chủ thể áp dụng sớm các quy định liên quan đến người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, hoặc quy định mới về thời hiệu chưa được “kích hoạt” về mặt hiệu lực. Khi bình luận hoặc áp dụng, cần đọc kỹ từng điểm a, b, c, d khoản 1 Điều 517 để phân loại rõ quy định nào áp dụng từ 01/7/2016, quy định nào từ 01/01/2017.

Nhầm lẫn về việc chấm dứt hiệu lực BLTTDS 2004

Nhầm lẫn thứ hai là cho rằng BLTTDS 2004 hết hiệu lực hoàn toàn ngay ngày 01/7/2016. Khoản 2 Điều 517 lại thiết kế một ngoại lệ giữ lại hiệu lực một phần của Điều 159 và điểm h khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2004 đến hết ngày 31/12/2016. Điều này đòi hỏi sự thận trọng khi xác định căn cứ pháp lý cho các vụ việc phát sinh, nộp đơn, giải quyết trong giai đoạn 01/7/2016 đến 31/12/2016: không chỉ viện dẫn BLTTDS 2015, mà còn phải kiểm tra xem vấn đề đang xử lý có thuộc phạm vi ngoại lệ của BLTTDS 2004 hay không.

Điều kiện “kích hoạt” và lưu ý thực tiễn khi áp dụng Điều 517

Điều 517 không tự mình áp dụng độc lập để giải quyết vụ việc, mà đóng vai trò điều khoản khung giúp xác định văn bản tố tụng nào đang điều chỉnh tại từng thời điểm. Việc “kích hoạt” Điều 517 diễn ra khi có tình huống cần trả lời các câu hỏi: tại thời điểm phát sinh, nộp đơn, thụ lý, xét xử, văn bản nào có hiệu lực; quy định nào còn hiệu lực, quy định nào đã bị thay thế. Trong thực tiễn, Điều 517 thường được kết hợp với các quy định về điều khoản chuyển tiếp trong các luật nội dung khác (như Bộ luật Dân sự 2015) để bảo đảm tính nhất quán giữa pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng.

Lưu ý quan trọng là phải xác định đúng mốc thời gian liên quan: (i) ngày phát sinh quan hệ pháp luật; (ii) ngày nộp đơn khởi kiện, yêu cầu; (iii) ngày thụ lý, xét xử; và đối chiếu với các mốc 01/7/2016, 01/01/2017 và 31/12/2016. Việc nhầm lẫn mốc thời gian hoặc bỏ qua ngoại lệ hiệu lực có thể dẫn đến việc áp dụng sai căn cứ tố tụng, ảnh hưởng đến quyền khởi kiện, quyền yêu cầu và kết quả giải quyết vụ việc.

Trong giai đoạn từ 01/7/2016 đến 31/12/2016, có phải mọi quy định của BLTTDS 2015 đều được áp dụng không?
Không. Một số quy định liên quan Bộ luật Dân sự 2015 chỉ có hiệu lực từ 01/01/2017, cần đối chiếu điểm a, b, c, d khoản 1 Điều 517.
BLTTDS 2004 hết hiệu lực hoàn toàn từ khi nào theo Điều 517 BLTTDS 2015?
BLTTDS 2004 hết hiệu lực từ 01/7/2016, trừ Điều 159 và điểm h khoản 1 Điều 192 vẫn có hiệu lực đến hết ngày 31/12/2016.
Khi xác định pháp luật tố tụng áp dụng cho vụ việc phát sinh năm 2016, cần lưu ý những mốc thời gian nào?
Cần lưu ý 01/7/2016 (hiệu lực chung BLTTDS 2015), 01/01/2017 (hiệu lực một số ngoại lệ) và 31/12/2016 (kết thúc hiệu lực phần BLTTDS 2004.
Điều 517 BLTTDS 2015 có được sử dụng để trực tiếp giải quyết tranh chấp không?
Không. Điều 517 là điều khoản về hiệu lực thi hành, chỉ dùng để xác định văn bản tố tụng đang điều chỉnh tại từng thời điểm cụ thể.
Vì sao một số quy định của BLTTDS 2015 phải lùi thời điểm hiệu lực đến 01/01/2017?
Để đảm bảo đồng bộ với Bộ luật Dân sự 2015, tránh áp dụng trước các quy định tố tụng liên quan đến chế định chỉ có hiệu lực từ 01/01/2017.
Mục lục văn bản