Điều 477 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: Xử lý kết quả tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài và kết quả yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thu thập chứng cứ
Bình luận Điều 477 BLTTDS 2015 về xử lý kết quả tống đạt, thu thập chứng cứ đối với đương sự ở nước ngoài.
Điều 477. Xử lý kết quả tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài và kết quả yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thu thập chứng cứ
Khi nhận được kết quả tống đạt và kết quả thu thập chứng cứ ở nước ngoài, tùy từng trường hợp cụ thể mà Tòa án xử lý như sau:
1. Không mở phiên họp hòa giải khi đã nhận được kết quả tống đạt theo một trong các phương thức quy định tại khoản 1 Điều 474 của Bộ luật này, đương sự đã cung cấp đầy đủ lời khai, tài liệu, chứng cứ và vụ án dân sự thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 207 của Bộ luật này;
2. Hoãn phiên họp hòa giải nếu đã nhận được thông báo về việc tống đạt đã hoàn thành nhưng đến ngày mở phiên họp hòa giải mà Tòa án vẫn không nhận được lời khai, tài liệu, chứng cứ của đương sự và họ không đề nghị được vắng mặt tại phiên họp hòa giải. Nếu đến ngày mở lại phiên họp hòa giải mà đương sự ở nước ngoài vẫn vắng mặt thì Tòa án xác định đây là trường hợp không tiến hành hòa giải được;
3. Tòa án hoãn phiên tòa trong các trường hợp sau đây:
a) Đương sự ở nước ngoài đề nghị hoãn phiên tòa lần thứ nhất;
b) Đương sự ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;
4. Tòa án không nhận được văn bản thông báo về kết quả tống đạt cũng như lời khai, tài liệu, chứng cứ của đương sự ở nước ngoài và đến ngày mở phiên tòa đương sự ở nước ngoài không có mặt, không có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt họ thì Tòa án hoãn phiên tòa. Ngay sau khi hoãn phiên tòa thì Tòa án có văn bản đề nghị Bộ Tư pháp hoặc cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài thông báo về việc thực hiện tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài trong trường hợp Tòa án thực hiện việc tống đạt thông qua các cơ quan này theo một trong các phương thức quy định tại các điểm a, b và d khoản 1 Điều 474 của Bộ luật này.
Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được văn bản của Tòa án, cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài phải thông báo cho Tòa án về kết quả thực hiện việc tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự ở nước ngoài.
Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Bộ Tư pháp nhận được văn bản của Tòa án, Bộ Tư pháp phải có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài trả lời về kết quả thực hiện ủy thác tư pháp.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản của cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài gửi về thì Bộ Tư pháp phải trả lời cho Tòa án.
Hết thời hạn 03 tháng, kể từ ngày chuyển văn bản của Tòa án cho cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài mà không nhận được văn bản trả lời thì Bộ Tư pháp phải thông báo cho Tòa án biết để làm căn cứ giải quyết vụ án;
5. Tòa án xét xử vắng mặt đương sự ở nước ngoài trong các trường hợp sau đây:
a) Tòa án đã nhận được kết quả tống đạt theo một trong các phương thức tống đạt quy định tại khoản 1 Điều 474 của Bộ luật này, đương sự đã cung cấp đầy đủ lời khai, tài liệu, chứng cứ và đương sự đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt họ;
b) Tòa án đã thực hiện các biện pháp quy định tại khoản 3 Điều 474 của Bộ luật này;
c) Tòa án không nhận được thông báo của cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại khoản 4 Điều này về kết quả thực hiện việc tống đạt cho đương sự ở nước ngoài.
6. Nếu Tòa án nhận được văn bản thông báo về việc tống đạt không thực hiện được do họ, tên, địa chỉ của đương sự không đúng hoặc đương sự đã chuyển đến địa chỉ mới nhưng không rõ địa chỉ mới thì Tòa án giải quyết như sau:
a) Tòa án yêu cầu nguyên đơn và người thân thích trong nước của đương sự ở nước ngoài (nếu có) cung cấp địa chỉ đúng hoặc địa chỉ mới của đương sự ở nước ngoài. Tòa án tiếp tục tống đạt thông báo thụ lý cho đương sự ở nước ngoài theo địa chỉ do nguyên đơn, người thân thích trong nước của đương sự ở nước ngoài cung cấp;
b) Nếu nguyên đơn, người thân thích trong nước của đương sự không cung cấp được hoặc người thân thích trong nước của đương sự từ chối cung cấp địa chỉ đúng hoặc địa chỉ mới của đương sự ở nước ngoài hoặc đương sự ở nước ngoài không có người thân thích ở Việt Nam thì Tòa án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án. Đồng thời, Tòa án giải thích cho người khởi kiện biết quyền yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm đương sự vắng mặt tại nơi cư trú hoặc yêu cầu Tòa án tuyên bố đương sự mất tích hoặc đã chết;
c) Trường hợp nguyên đơn là công dân Việt Nam yêu cầu ly hôn với người nước ngoài đang cư trú ở nước ngoài mà không thể thực hiện việc cung cấp đúng họ, tên, địa chỉ hoặc địa chỉ mới của người nước ngoài theo yêu cầu của Tòa án mặc dù nguyên đơn, thân nhân của họ hoặc cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc của nước ngoài đã tiến hành xác minh tin tức, địa chỉ của người nước ngoài đó nhưng không có kết quả thì nguyên đơn yêu cầu Tòa án thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có), Cổng thông tin điện tử của cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài; trường hợp cần thiết, theo yêu cầu của nguyên đơn, Tòa án có thể thông báo qua kênh dành cho người nước ngoài của Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình của trung ương ba lần trong 03 ngày liên tiếp.
Trong trường hợp này, Tòa án không phải tống đạt lại văn bản tố tụng cho đương sự ở nước ngoài. Hết thời hạn 01 tháng, kể từ ngày đăng thông báo, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.
Mục đích và định hướng chính của Điều 477
Điều 477 nhằm giải quyết tình trạng vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài bị kéo dài do khó khăn trong tống đạt và thu thập chứng cứ. Quy định thiết lập các mốc thời gian, tình huống xử lý cụ thể để Tòa án vẫn có cơ sở tiếp tục giải quyết vụ án dù việc ủy thác tư pháp không hoàn toàn suôn sẻ. Đồng thời, điều luật cân bằng giữa quyền được tham gia tố tụng của đương sự ở nước ngoài với yêu cầu bảo đảm tiến độ, hiệu quả của hoạt động xét xử.
Những tình huống xử lý chính cần nắm
Không tiến hành hòa giải và hoãn phiên họp hòa giải
Điểm cốt lõi là phân biệt giữa trường hợp không tiến hành hòa giải được và trường hợp phải hoãn phiên họp hòa giải Điều 477 quy định khá chặt chẽ các căn cứ hoãn phiên tòa khi có yếu tố nước ngoài. Việc hoãn lần thứ nhất do đề nghị của đương sự hoặc do họ vắng mặt (không có đơn xin xét xử vắng mặt) thể hiện sự tôn trọng quyền tham gia tố tụng. Tuy nhiên, sau khi Tòa án đã áp dụng biện pháp tống đạt phù hợp theo Điều 474 hoặc hết các thời hạn phối hợp với Bộ Tư pháp, cơ quan đại diện mà không có phản hồi, Tòa án được xét xử vắng mặt để tránh vụ án bị đình trệ vô thời hạn. Người áp dụng cần lưu ý: xét xử vắng mặt không phải chế tài mà là cơ chế bảo đảm tính liên tục của tố tụng sau khi đã có đủ nỗ lực thông báo, liên hệ với đương sự. Quy định về thời hạn 01 tháng, 10 ngày, 05 ngày làm việc và 03 tháng trong Điều 477 thiết lập chuỗi trách nhiệm phối hợp giữa Tòa án, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài và cơ quan có thẩm quyền nước ngoài. Đây là cơ chế kiểm soát tiến độ: nếu hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày gửi văn bản mà cơ quan nước ngoài không trả lời, Bộ Tư pháp phải thông báo cho Tòa án để làm căn cứ giải quyết vụ án. Thẩm phán cần nắm rõ các mốc này để lập hồ sơ, xác định thời điểm được chuyển sang xét xử vắng mặt hoặc các bước xử lý tiếp theo. Khi việc tống đạt không thực hiện được do họ, tên, địa chỉ không đúng hoặc đương sự đã chuyển đến nơi ở mới không rõ, Tòa án phải quay về nguồn thông tin chính: nguyên đơn và người thân thích trong nước. Việc yêu cầu cung cấp địa chỉ mới là bước bảo đảm quyền tiếp cận công lý của bị đơn ở nước ngoài. Nếu nguyên đơn hoặc người thân thích không cung cấp được, từ chối cung cấp hoặc không có người thân thích ở Việt Nam, Tòa án có quyền ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Điểm quan trọng là Tòa án đồng thời phải giải thích cho người khởi kiện về quyền yêu cầu thông báo tìm kiếm, tuyên bố mất tích hoặc đã chết theo thủ tục tố tụng dân sự và dân sự. Khoản 6 Điều 477 dành quy định riêng cho trường hợp nguyên đơn là công dân Việt Nam xin ly hôn với người nước ngoài ở nước ngoài mà không thể cung cấp địa chỉ dù đã được bản thân, thân nhân hoặc cơ quan có thẩm quyền trong và ngoài nước xác minh. Trong tình huống này, cơ chế tống đạt truyền thống không hiệu quả, Điều luật chuyển sang hình thức thông báo rộng rãi: đăng trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có), của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài và có thể thông báo qua kênh dành cho người nước ngoài của Đài phát thanh, Đài truyền hình trung ương. Sau khi đã thông báo ba lần trong ba ngày liên tiếp (nếu thực hiện), Tòa án không phải tống đạt lại văn bản tố tụng; hết 01 tháng kể từ ngày đăng thông báo, Tòa án được xét xử vắng mặt. Đây là cơ chế đặc thù giúp người Việt Nam vẫn có thể chấm dứt quan hệ hôn nhân trong thực tiễn phức tạp về di trú, cư trú. Một nhầm lẫn phổ biến là cho rằng cứ đương sự ở nước ngoài vắng mặt thì Tòa án mặc nhiên xét xử vắng mặt. Thực tế, Điều 477 đặt ra nhiều điều kiện: phải có kết quả tống đạt theo Điều 474, đương sự đã cung cấp đầy đủ lời khai, tài liệu, chứng cứ và có đề nghị xét xử vắng mặt hoặc Tòa án đã thực hiện đầy đủ các biện pháp tống đạt, ủy thác mà không có kết quả. Nhầm lẫn thứ hai là bỏ qua căn cứ đình chỉ khi không xác định được địa chỉ, dẫn đến kéo dài tố tụng không cần thiết. Cuối cùng, đôi khi có xu hướng coi thông báo trên cổng thông tin, đài phát thanh, truyền hình là “thủ tục phụ” không cần thiết; thực tế đây là điều kiện để Tòa án xét xử vắng mặt trong trường hợp đặc biệt về ly hôn với người nước ngoài. Khi vận dụng, cần bám sát cấu trúc của Điều 477, đọc song song với Điều 474 và Điều 207 BLTTDS 2015 để tránh hiểu thiếu hoặc áp dụng sai.Hoãn phiên tòa và xét xử vắng mặt đương sự ở nước ngoài
Vai trò trung gian của Bộ Tư pháp và cơ quan đại diện
Địa chỉ không đúng, không xác định và hệ quả tố tụng
Trách nhiệm cung cấp địa chỉ và quyết định đình chỉ
Vụ việc ly hôn với người nước ngoài không xác định được địa chỉ
Những nhầm lẫn thường gặp khi áp dụng Điều 477