Điều 47 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: Nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án Tòa án
Bình luận Điều 47 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 về nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án Tòa án và các lưu ý áp dụng thực tiễn.
Điều 47. Nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án Tòa án
1. Chánh án Tòa án có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tổ chức công tác giải quyết vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án; bảo đảm thực hiện nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật;
b) Quyết định phân công Thẩm phán thụ lý vụ việc dân sự, Thẩm phán giải quyết vụ việc dân sự, Hội thẩm nhân dân tham gia Hội đồng xét xử vụ án dân sự; quyết định phân công Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án tiến hành tố tụng đối với vụ việc dân sự bảo đảm đúng nguyên tắc quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật này;
c) Quyết định thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án trước khi mở phiên tòa;
d) Quyết định thay đổi người giám định, người phiên dịch trước khi mở phiên tòa;
đ) Ra quyết định và tiến hành hoạt động tố tụng dân sự theo quy định của Bộ luật này;
e) Giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của Bộ luật này;
g) Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án theo quy định của Bộ luật này hoặc kiến nghị Chánh án Tòa án có thẩm quyền xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án;
h) Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật nếu phát hiện có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên theo quy định của Bộ luật này;
i) Xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng dân sự theo quy định của pháp luật;
k) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
2. Khi Chánh án vắng mặt, một Phó Chánh án được Chánh án ủy nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án, trừ quyền kháng nghị quy định tại điểm g khoản 1 Điều này. Phó Chánh án chịu trách nhiệm trước Chánh án về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được ủy nhiệm.
Ý nghĩa điều luật
Điều 47 thể hiện cách thiết kế quyền lực trong tố tụng dân sự theo hướng phân công – kiểm soát – bảo đảm độc lập xét xử. Chánh án không phải là người giải quyết thay nội dung tranh chấp, mà là người tổ chức bộ máy, phân công người tiến hành tố tụng và xử lý những tình huống phát sinh để hoạt động xét xử không bị gián đoạn. Đây là cơ chế bảo đảm tính vận hành của Tòa án nhưng vẫn giữ ranh giới giữa quản lý hành chính tư pháp và hoạt động xét xử độc lập.
Những quyền hạn cần nắm đúng
Trọng tâm của Điều 47 nằm ở các nhóm quyền: tổ chức công tác giải quyết vụ việc; phân công Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký, Thẩm tra viên; thay đổi người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo luật; giải quyết khiếu nại, tố cáo; xử lý hành vi cản trở tố tụng; và thực hiện kháng nghị, kiến nghị theo thẩm quyền. Trong đó, quyền phân công và quyền thay đổi nhân sự tố tụng phải được thực hiện đúng căn cứ luật định, không phải là quyền tùy nghi. Người áp dụng cần đọc Điều 47 cùng với các quy định về nguyên tắc xét xử độc lập và các trường hợp phải thay đổi người tiến hành tố tụng để xác định đúng giới hạn thẩm quyền.
Điều kiện để áp dụng
Điều luật này được kích hoạt khi Tòa án có vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền và cần xác định người tiến hành tố tụng, xử lý vướng mắc về nhân sự tố tụng, hoặc giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình thụ lý, chuẩn bị xét xử và xét xử. Với quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, điều kiện áp dụng còn phải đáp ứng căn cứ và trình tự riêng của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng việc ủy nhiệm cho Phó Chánh án chỉ đặt ra khi Chánh án vắng mặt và vẫn loại trừ quyền kháng nghị tại điểm g khoản 1 Điều 47 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Điểm dễ hiểu sai
Hiểu sai phổ biến là cho rằng Chánh án có thể can thiệp vào kết quả giải quyết vụ án. Thực chất, Điều 47 chỉ trao quyền tổ chức và bảo đảm điều kiện tố tụng, không cho phép Chánh án thay thế Hội đồng xét xử trong việc đánh giá chứng cứ hay tuyên án. Một nhầm lẫn khác là xem việc phân công Thẩm phán, Hội thẩm hay Thư ký là quyết định mang tính chủ quan; trên thực tế, đây là hoạt động phải tuân thủ nguyên tắc khách quan, đúng quy định về tổ chức và phân công công tác trong Tòa án.
Lưu ý thực tiễn
Khi kiểm tra tính hợp pháp của thủ tục tố tụng, cần chú ý xem việc phân công, thay đổi người tiến hành tố tụng có đúng thẩm quyền và đúng thời điểm hay không. Nếu có dấu hiệu sai phạm, cần phân biệt giữa sai về quản lý nội bộ và sai làm ảnh hưởng đến quyền tố tụng của đương sự, vì chỉ những vi phạm ảnh hưởng đến tính khách quan, hợp pháp của quá trình tố tụng mới có ý nghĩa pháp lý đáng kể. Điều 47 cũng cho thấy vai trò của Chánh án trong bảo vệ trật tự phiên tòa và bảo đảm hiệu lực thực thi pháp luật, nhất là đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng dân sự.