Điều 465 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: Quyền, nghĩa vụ tố tụng của người nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam của cơ quan, tổ chức nước ngoài và tổ chức quốc tế, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam, Nhà nước nước ngoài

Phân tích Điều 465 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 về quyền, nghĩa vụ tố tụng của người nước ngoài, tổ chức nước ngoài và nguyên tắc có đi có lại.

Điều 465. Quyền, nghĩa vụ tố tụng của người nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam của cơ quan, tổ chức nước ngoài và tổ chức quốc tế, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam, Nhà nước nước ngoài

1. Người nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam có quyền khởi kiện đến Tòa án Việt Nam để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm hoặc có tranh chấp.

Chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam của cơ quan, tổ chức nước ngoài theo ủy quyền có quyền khởi kiện đến Tòa án Việt Nam để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức nước ngoài ủy quyền bị xâm phạm hoặc có tranh chấp.

2. Khi tham gia tố tụng dân sự, người nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam của cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam, Nhà nước nước ngoài có quyền, nghĩa vụ tố tụng như công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam.

3. Nhà nước Việt Nam có thể áp dụng nguyên tắc có đi có lại để hạn chế quyền tố tụng dân sự tương ứng của người nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam của cơ quan, tổ chức nước ngoài mà Tòa án của nước đó đã hạn chế quyền tố tụng dân sự đối với công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam, chi nhánh, văn phòng đại diện tại nước ngoài của cơ quan, tổ chức Việt Nam.

Vị trí, mục đích của Điều 465 trong hệ thống pháp luật tố tụng

Điều 465 đặt nền tảng cho việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể nước ngoài tại Tòa án Việt Nam trong các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài. Quy định này thể hiện nguyên tắc bình đẳng về quyền tiếp cận công lý giữa người nước ngoài, tổ chức nước ngoài với công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam. Đồng thời, điều luật tạo cơ sở pháp lý để Tòa án xử lý tranh chấp dân sự quốc tế gắn với Việt Nam mà không cần mỗi lần phải kiểm tra lại khả năng khởi kiện của chủ thể nước ngoài.

Phạm vi chủ thể và quyền khởi kiện

Điều 465 phân định rõ nhóm chủ thể được hưởng quyền khởi kiện tại Tòa án Việt Nam gồm: người nước ngoài; cơ quan, tổ chức nước ngoài; tổ chức quốc tế; cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam; Nhà nước nước ngoài. Điểm đáng chú ý là quy định riêng cho chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam của cơ quan, tổ chức nước ngoài, chỉ có quyền khởi kiện theo ủy quyền nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức mẹ ở nước ngoài. Đây không phải là quyền khởi kiện độc lập cho chi nhánh, mà là thực hiện quyền tố tụng nhân danh bên ủy quyền.

Để “kích hoạt” Điều 465, cần có: (i) chủ thể thuộc một trong các nhóm nêu trong điều luật; (ii) có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hoặc phát sinh tranh chấp dân sự; (iii) yêu cầu bảo vệ được đưa đến Tòa án Việt Nam theo các căn cứ thẩm quyền về tranh chấp có yếu tố nước ngoài trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Nguyên tắc bình đẳng về quyền, nghĩa vụ tố tụng

Khoản 2 Điều 465 khẳng định khi tham gia tố tụng dân sự, chủ thể nước ngoài và Nhà nước nước ngoài có quyền, nghĩa vụ tố tụng như công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam. Nghĩa là các quy định về quyền, nghĩa vụ của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện… trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 được áp dụng tương tự cho các chủ thể này. Họ không được hưởng ưu tiên hay phải chịu bất lợi chỉ vì yếu tố quốc tịch hoặc nơi thành lập.

Trong thực tiễn, hay xuất hiện nhầm lẫn cho rằng Nhà nước nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế luôn có đặc quyền miễn trừ tuyệt đối trước Tòa án Việt Nam. Điều 465 cho thấy, trong khuôn khổ tố tụng dân sự, nếu chấp nhận tham gia hoặc thuộc trường hợp pháp luật quy định, các chủ thể này vẫn phải tuân thủ đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng như các bên khác, trừ trường hợp có quy định riêng của điều ước quốc tế hoặc pháp luật chuyên ngành về miễn trừ tư pháp.

Nguyên tắc có đi có lại và giới hạn quyền tố tụng

Khoản 3 Điều 465 trao cho Nhà nước Việt Nam cơ chế áp dụng nguyên tắc có đi có lại để hạn chế tương ứng quyền tố tụng dân sự của chủ thể nước ngoài khi Tòa án nước họ đã hạn chế quyền tố tụng dân sự của công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam. Điểm cốt lõi là bảo đảm sự cân bằng trong đối xử pháp lý giữa hai bên, tránh tình trạng công dân, tổ chức Việt Nam bị đối xử bất lợi trong hệ thống tư pháp nước ngoài nhưng chủ thể nước đó lại được hưởng toàn bộ quyền tại Việt Nam.

Cần lưu ý: nguyên tắc có đi có lại chỉ vận hành trong phạm vi hạn chế tương ứng, không phải cấm tuyệt đối quyền khởi kiện hay tham gia tố tụng của mọi chủ thể nước đó. Việc áp dụng nguyên tắc này còn phải xem xét điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và quy định pháp luật liên quan, tránh mâu thuẫn với nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam. Trong thực tế, Tòa án không tự ý viện dẫn nguyên tắc có đi có lại một cách rộng rãi, mà thường cần có thông tin chính thức về việc nước ngoài đã hạn chế quyền tố tụng của chủ thể Việt Nam.

Một số nhầm lẫn thường gặp và lưu ý áp dụng

Nhầm lẫn về tư cách khởi kiện của chi nhánh, văn phòng đại diện

Chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam của cơ quan, tổ chức nước ngoài không được coi là chủ thể độc lập có đầy đủ quyền, nghĩa vụ như pháp nhân Việt Nam trong mọi trường hợp. Điều 465 chỉ thừa nhận quyền khởi kiện của họ trong phạm vi theo ủy quyền để bảo vệ quyền và lợi ích của tổ chức nước ngoài thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện. Khi áp dụng, cần kiểm tra kỹ hợp đồng ủy quyền, điều lệ và giấy phép hoạt động để xác định đúng tư cách tố tụng.

Nhầm lẫn về quyền ưu tiên, miễn trừ của chủ thể nước ngoài

Không ít trường hợp mặc định chủ thể nước ngoài, nhất là Nhà nước nước ngoài, tổ chức quốc tế, được miễn trừ nghĩa vụ tuân thủ thủ tục tố tụng (triệu tập, nộp chứng cứ, án phí…). Điều 465 xác định rõ nguyên tắc bình đẳng tố tụng, nên Tòa án và các bên phải xuất phát từ giả định chủ thể nước ngoài có cùng loại quyền, nghĩa vụ tố tụng như chủ thể Việt Nam, chỉ điều chỉnh nếu có điều khoản riêng của điều ước quốc tế hoặc luật chuyên ngành về miễn trừ ngoại giao, miễn trừ tư pháp.

Lưu ý khi lập kế hoạch khởi kiện và lựa chọn Tòa án

Khi đại diện chủ thể nước ngoài khởi kiện tại Việt Nam, cần kết hợp Điều 465 với các quy định về thẩm quyền theo loại việc, theo cấp và thẩm quyền riêng biệt đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài. Mặt khác, cần đánh giá xem quốc gia của chủ thể đó có hạn chế quyền khởi kiện của chủ thể Việt Nam hay không, để dự liệu khả năng phía Việt Nam áp dụng nguyên tắc có đi có lại. Việc chuẩn bị hồ sơ, chứng cứ, xác định tư cách tố tụng và ngôn ngữ sử dụng cũng cần bám sát nguyên tắc bình đẳng về quyền, nghĩa vụ trong tố tụng được ghi nhận tại điều luật này.

Người nước ngoài có được trực tiếp khởi kiện tranh chấp dân sự tại Tòa án Việt Nam không?
Có. Người nước ngoài có quyền khởi kiện tại Tòa án Việt Nam để yêu cầu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hoặc có tranh chấp, trên cơ sở Điều 465.
Chi nhánh của công ty nước ngoài tại Việt Nam có thể tự mình khởi kiện để bảo vệ quyền của mình không?
Chi nhánh chỉ có quyền khởi kiện theo ủy quyền để bảo vệ quyền, lợi ích của tổ chức nước ngoài thành lập chi nhánh; không mặc nhiên có quyền khởi kiện độc lập cho mọi tranh chấp.
Nhà nước nước ngoài khi tham gia tố tụng dân sự tại Việt Nam có quyền, nghĩa vụ gì?
Nhà nước nước ngoài có quyền, nghĩa vụ tố tụng như công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế hoặc pháp luật chuyên ngành quy định miễn trừ tư pháp khác.
Nguyên tắc có đi có lại tại Điều 465 được áp dụng trong trường hợp nào?
Được áp dụng khi Tòa án của một nước đã hạn chế quyền tố tụng dân sự của công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam; khi đó Việt Nam có thể hạn chế tương ứng quyền tố tụng của chủ thể nước đó.
Tổ chức quốc tế có trụ sở đại diện tại Việt Nam có được tham gia tố tụng như pháp nhân Việt Nam không?
Có. Tổ chức quốc tế và cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam tham gia tố tụng với quyền, nghĩa vụ như cơ quan, tổ chức Việt Nam, theo nguyên tắc bình đẳng tại Điều 465.
Mục lục văn bản