Điều 45 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: Nguyên tắc giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng

Bình luận pháp lý về Điều 45 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015: thứ tự áp dụng tập quán, tương tự pháp luật, án lệ và lẽ công bằng.

Điều 45. Nguyên tắc giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng

1. Việc áp dụng tập quán được thực hiện như sau:

Tòa án áp dụng tập quán để giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định. Tập quán không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật dân sự.

Khi yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền viện dẫn tập quán để yêu cầu Tòa án xem xét áp dụng.

Tòa án có trách nhiệm xác định giá trị áp dụng của tập quán bảo đảm đúng quy định tại Điều 5 của Bộ luật dân sự.

Trường hợp các đương sự viện dẫn các tập quán khác nhau thì tập quán có giá trị áp dụng là tập quán được thừa nhận tại nơi phát sinh vụ việc dân sự.

2. Việc áp dụng tương tự pháp luật được thực hiện như sau:

Tòa án áp dụng tương tự pháp luật để giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp các bên không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định và không có tập quán được áp dụng theo quy định tại Điều 5 của Bộ luật dân sự và khoản 1 Điều này.

Khi áp dụng tương tự pháp luật, Tòa án phải xác định rõ tính chất pháp lý của vụ việc dân sự, xác định rõ ràng trong hệ thống pháp luật hiện hành không có quy phạm pháp luật nào điều chỉnh quan hệ đó và xác định quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự.

3. Việc áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng được thực hiện như sau:

Tòa án áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng để giải quyết vụ việc dân sự khi không thể áp dụng tập quán, tương tự pháp luật theo quy định tại Điều 5 và khoản 1 Điều 6 của Bộ luật dân sự, khoản 1 và khoản 2 Điều này.

Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự là những nguyên tắc được quy định tại Điều 3 của Bộ luật dân sự.

Án lệ được Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong giải quyết vụ việc dân sự khi đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố.

Lẽ công bằng được xác định trên cơ sở lẽ phải được mọi người trong xã hội thừa nhận, phù hợp với nguyên tắc nhân đạo, không thiên vị và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong vụ việc dân sự đó.

Ý nghĩa của Điều 45

Điều 45 thể hiện quan điểm nhất quán của pháp luật tố tụng dân sự: mọi vụ việc dân sự đều phải được giải quyết, kể cả khi chưa có điều luật trực tiếp điều chỉnh. Đây là cơ chế kỹ thuật nhằm ngăn tình trạng “khoảng trống pháp lý” làm tê liệt quyền khởi kiện và quyền được Tòa án bảo vệ. Vì vậy, Điều 45 không trao cho Tòa án quyền tùy nghi, mà đặt ra một trình tự bắt buộc để tìm căn cứ giải quyết.

Thứ tự áp dụng là điểm cốt lõi

Điều luật này không cho phép lựa chọn tùy ý giữa các nguồn bổ trợ. Tòa án phải đi theo thứ tự: tập quán, sau đó tương tự pháp luật, và chỉ khi không thể áp dụng hai nguồn này mới xét đến nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng. Trình tự này có ý nghĩa ràng buộc, giúp bảo đảm tính dự đoán và thống nhất trong xét xử.

Tập quán

Tập quán chỉ được áp dụng khi các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định. Điều kiện quan trọng là tập quán đó không trái các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự theo Điều 3 Bộ luật Dân sự 2015. Đương sự có quyền viện dẫn tập quán, nhưng Tòa án vẫn phải tự mình kiểm tra giá trị áp dụng và xác định tập quán được thừa nhận tại nơi phát sinh vụ việc nếu các bên đưa ra tập quán khác nhau.

Tương tự pháp luật

Chỉ khi không có thỏa thuận, không có quy định pháp luật, và cũng không có tập quán phù hợp thì mới áp dụng tương tự pháp luật. Điểm cần nắm là Tòa án phải chỉ rõ vụ việc thuộc loại quan hệ nào, vì quy phạm được chọn phải điều chỉnh một quan hệ dân sự tương tự về bản chất. Đây là bước dễ bị nhầm với việc “suy diễn” từ cảm tính; thực chất, Tòa án phải xác định căn cứ pháp lý tương tự một cách chặt chẽ.

Nguyên tắc cơ bản, án lệ và lẽ công bằng

Đây là tầng áp dụng sau cùng, khi không thể giải quyết bằng tập quán hoặc tương tự pháp luật. Án lệ chỉ được áp dụng khi đã được lựa chọn và công bố theo đúng thủ tục của Tòa án nhân dân tối cao. Lẽ công bằng không phải là sự suy đoán chủ quan của người xét xử, mà phải được xác định trên cơ sở lẽ phải được xã hội thừa nhận, bảo đảm nhân đạo, không thiên vị và bình đẳng về quyền, nghĩa vụ giữa các đương sự.

Những hiểu sai thường gặp

Một nhầm lẫn phổ biến là cho rằng có thể viện dẫn thẳng án lệ hoặc lẽ công bằng ngay khi thiếu điều luật. Cách hiểu này không đúng vì Điều 45 quy định rõ thứ tự ưu tiên, trong đó tập quán và tương tự pháp luật phải được xem xét trước. Một nhầm lẫn khác là coi tập quán nào cũng có giá trị; trên thực tế, tập quán chỉ có thể được chấp nhận nếu phù hợp các nguyên tắc nền tảng của pháp luật dân sự.

Lưu ý khi áp dụng trong thực tiễn

Khi nghiên cứu một vụ việc chưa có điều luật trực tiếp, cần kiểm tra theo ba lớp: có thỏa thuận hay không, có quy định trực tiếp hay không, và có tập quán phù hợp hay không. Chỉ sau khi loại trừ lần lượt các khả năng này mới chuyển sang tương tự pháp luật và các nguồn bổ trợ khác. Điều 45 vì thế là quy phạm định hướng phương pháp giải quyết, chứ không phải căn cứ nội dung để tự tạo ra quy tắc mới ngoài khuôn khổ luật định.

Khi nào Tòa án được áp dụng tập quán để giải quyết vụ việc dân sự?
Khi các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định. Tập quán cũng phải phù hợp Điều 3 Bộ luật Dân sự 2015 và được Tòa án xác định giá trị áp dụng.
Có thể áp dụng án lệ ngay khi chưa có điều luật trực tiếp không?
Không. Tòa án phải ưu tiên tập quán và tương tự pháp luật trước; chỉ khi không thể áp dụng các nguồn này mới xem xét án lệ, nguyên tắc cơ bản và lẽ công bằng.
Lẽ công bằng có phải là sự quyết định tùy ý của Thẩm phán không?
Không. Lẽ công bằng phải dựa trên lẽ phải được xã hội thừa nhận, bảo đảm nhân đạo, không thiên vị và bình đẳng giữa các đương sự.
Nếu các bên viện dẫn tập quán khác nhau thì Tòa án chọn theo tiêu chí nào?
Tòa án áp dụng tập quán được thừa nhận tại nơi phát sinh vụ việc dân sự, sau khi đánh giá giá trị áp dụng theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Mục lục văn bản