Điều 447 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: Thời hiệu yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam
Bình luận Điều 447 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 về thời hiệu yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài.
Điều 447. Thời hiệu yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam
1. Trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam, đương sự, người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền gửi đơn đến Bộ Tư pháp Việt Nam theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Bộ luật này trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên không quy định hoặc không có điều ước quốc tế liên quan để yêu cầu Tòa án không công nhận bản án, quyết định dân sự đó.
2. Trường hợp người làm đơn chứng minh được vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà không thể gửi đơn đúng thời hạn quy định tại khoản 1
Điều này thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời hạn gửi đơn.
Ý nghĩa của quy định
Điều 447 thiết lập một thời hiệu yêu cầu ngắn nhằm buộc người có quyền, lợi ích liên quan sớm lựa chọn thái độ pháp lý đối với bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài. Mục tiêu của quy định là tránh kéo dài tình trạng pháp lý không rõ ràng đối với các phán quyết nước ngoài, nhất là trong những trường hợp không đặt ra việc thi hành tại Việt Nam. Đây là cơ chế cân bằng giữa quyền phản đối của đương sự và yêu cầu ổn định, an toàn của quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.
Điểm cần nắm khi áp dụng
Thời hạn 06 tháng được tính từ ngày nhận được bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nước ngoài, không phải từ ngày bản án được ban hành hay từ ngày phát sinh tranh chấp. Chủ thể có quyền yêu cầu gồm đương sự, người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ. Về nơi nộp đơn, pháp luật ưu tiên cơ chế được quy định trong điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; nếu không có điều ước hoặc điều ước không quy định thì thực hiện theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Điều kiện để áp dụng thời hiệu
Quy định này chỉ đặt ra khi đối tượng là bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài và không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam. Nghĩa là điều luật không điều chỉnh trực tiếp trường hợp bên được tuyên án yêu cầu công nhận để thi hành tại Việt Nam, vì đó là một cơ chế tố tụng khác. Muốn kích hoạt quyền yêu cầu theo điều này, người nộp đơn phải chứng minh mình thuộc đúng nhóm chủ thể được luật trao quyền và đang yêu cầu Tòa án Việt Nam không công nhận bản án, quyết định đó.
Các nhầm lẫn thường gặp
Một nhầm lẫn phổ biến là cho rằng cứ bản án nước ngoài đã có hiệu lực thì đương nhiên phải được công nhận hoặc đương nhiên bị xem xét lại; thực tế, Điều 447 chỉ giới hạn quyền yêu cầu không công nhận trong một thời hạn nhất định. Nhầm lẫn thứ hai là tính thời hiệu từ ngày bản án được tuyên, trong khi mốc đúng là ngày người có quyền nhận được bản án, quyết định. Nhầm lẫn thứ ba là bỏ qua ngoại lệ bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; trên thực tế, khoảng thời gian này không tính vào thời hạn 06 tháng nếu có chứng cứ chứng minh.
Lưu ý thực tiễn
Trong hồ sơ, yếu tố then chốt thường không nằm ở nội dung phản đối bản án mà nằm ở chứng cứ về thời điểm nhận được bản án và lý do làm đơn muộn nếu có. Khi phát sinh bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, người làm đơn cần chứng minh rõ khoảng thời gian bị ảnh hưởng để được loại trừ khỏi thời hiệu. Vì thời hạn khá ngắn, việc chậm trễ trong việc dịch thuật, hợp pháp hóa, xác định cơ quan có thẩm quyền hoặc thu thập tài liệu đều có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng yêu cầu không công nhận.