Điều 434 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: Giấy tờ, tài liệu gửi kèm theo đơn yêu cầu
Bình luận Điều 434 BLTTDS 2015 về giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn yêu cầu công nhận và thi hành bản án nước ngoài tại Việt Nam.
Điều 434. Giấy tờ, tài liệu gửi kèm theo đơn yêu cầu
1. Gửi kèm theo đơn yêu cầu là giấy tờ, tài liệu được quy định tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước có Tòa án đã ra bản án, quyết định cùng là thành viên. Trường hợp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước có Tòa án đã ra bản án, quyết định chưa cùng là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về vấn đề này thì kèm theo đơn yêu cầu phải có giấy tờ, tài liệu sau đây:
a) Bản chính hoặc bản sao có chứng thực bản án, quyết định do Tòa án nước ngoài cấp;
b) Văn bản của Tòa án nước ngoài hoặc cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài xác nhận bản án, quyết định đó có hiệu lực pháp luật, chưa hết thời hiệu thi hành và cần được thi hành tại Việt Nam, trừ trường hợp trong bản án, quyết định đó đã thể hiện rõ những nội dung này;
c) Văn bản của Tòa án nước ngoài hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài xác nhận kết quả tống đạt hợp lệ bản án, quyết định đó cho người phải thi hành;
d) Văn bản của Tòa án nước ngoài hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài xác nhận người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của người đó đã được triệu tập hợp lệ trong trường hợp Tòa án nước ngoài ra bản án vắng mặt họ.
2. Giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn yêu cầu bằng tiếng nước ngoài phải được gửi kèm theo bản dịch ra tiếng Việt, được công chứng, chứng thực hợp pháp.
Mục đích và logic của Điều 434
Điều 434 thiết lập bộ tiêu chuẩn hồ sơ mà người yêu cầu phải đáp ứng để Tòa án Việt Nam có cơ sở xem xét công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài. Quy định tách bạch hai trường hợp: có điều ước quốc tế chung và không có điều ước, nhằm bảo đảm vừa tôn trọng cam kết quốc tế, vừa giữ chuẩn kiểm soát tối thiểu khi chỉ áp dụng nguyên tắc có đi có lại. Trọng tâm của điều luật là yêu cầu chứng minh rõ ràng tình trạng pháp lý của bản án (hiệu lực, thời hiệu, nhu cầu thi hành tại Việt Nam) và tính hợp lệ của trình tự tố tụng ở nước ngoài.
Các giấy tờ bắt buộc khi không có điều ước quốc tế
Bản án, quyết định được chứng thực
Theo điểm a khoản 1 Điều 434 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, hồ sơ bắt buộc phải có bản chính hoặc bản sao có chứng thực bản án, quyết định do Tòa án nước ngoài cấp. Yêu cầu này nhằm tránh tranh chấp về nội dung bản án, loại trừ bản sao không chính thức, bản dịch không chuẩn hoặc văn bản nội bộ. Thiếu tài liệu này, Tòa án Việt Nam không thể kiểm tra nội dung, phạm vi nghĩa vụ và điều kiện công nhận.
Xác nhận hiệu lực pháp luật và thời hiệu thi hành
Điểm b khoản 1 Điều 434 yêu cầu văn bản xác nhận bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, chưa hết thời hiệu thi hành và cần được thi hành tại Việt Nam, trừ trường hợp nội dung này đã thể hiện ngay trong bản án. Đây là “điều kiện kích hoạt” quan trọng: nếu bản án chưa có hiệu lực hoặc đã hết thời hiệu thi hành theo pháp luật nước ngoài, việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam mất căn cứ. Đồng thời, xác nhận “cần được thi hành tại Việt Nam” giúp Tòa án Việt Nam đánh giá tính liên quan và thực tiễn của yêu cầu.
Xác nhận việc tống đạt và triệu tập hợp lệ
Điểm c và điểm d khoản 1 Điều 434 tập trung vào tính công bằng tố tụng của bản án nước ngoài. Văn bản xác nhận kết quả tống đạt hợp lệ bản án, quyết định cho người phải thi hành và việc triệu tập hợp lệ trong trường hợp xử vắng mặt là căn cứ để Tòa án Việt Nam đánh giá liệu quyền được thông tin và quyền được bảo vệ của người phải thi hành có được tôn trọng hay không. Nếu không chứng minh được tống đạt và triệu tập hợp lệ, nguy cơ bản án bị từ chối công nhận theo các điều khoản về bảo đảm quyền tranh tụng là rất lớn.
Bản dịch tiếng Việt và yêu cầu hợp pháp hóa
Khoản 2 Điều 434 yêu cầu tất cả giấy tờ, tài liệu bằng tiếng nước ngoài phải có bản dịch ra tiếng Việt, được công chứng, chứng thực hợp pháp. Đây là điều kiện kỹ thuật nhưng mang tính quyết định: Tòa án Việt Nam chỉ xem xét trên cơ sở tài liệu tiếng Việt; mọi nội dung, điều khoản, xác nhận bằng tiếng nước ngoài phải được dịch chính xác, tránh việc hiểu sai làm ảnh hưởng tới quyền nghĩa vụ của các bên. Sai sót thường gặp là nộp bản dịch không công chứng hoặc dịch không đầy đủ toàn bộ nội dung bản án, quyết định, dẫn đến hồ sơ bị yêu cầu bổ sung hoặc bị đánh giá thiếu căn cứ.
Những nhầm lẫn thường gặp khi áp dụng Điều 434
Một nhầm lẫn phổ biến là cho rằng chỉ cần nộp bản án nước ngoài là đủ, bỏ qua các văn bản xác nhận hiệu lực, thời hiệu và tống đạt, triệu tập hợp lệ. Trong thực tiễn, các văn bản này chính là căn cứ để Tòa án Việt Nam kiểm tra điều kiện công nhận theo các điều luật liên quan, nên thiếu bất kỳ tài liệu nào có thể dẫn đến việc bác yêu cầu hoặc yêu cầu bổ sung kéo dài thời gian giải quyết. Nhầm lẫn thứ hai là sử dụng bản dịch không công chứng hoặc do chính đương sự dịch, khiến giá trị chứng minh của bản dịch bị nghi ngờ; Tòa án không có nghĩa vụ chấp nhận bản dịch không hợp pháp hóa. Cuối cùng, nhiều trường hợp chỉ xin xác nhận hiệu lực pháp luật mà không xin xác nhận về thời hiệu thi hành và nhu cầu thi hành tại Việt Nam, làm hồ sơ chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của điểm b khoản 1 Điều 434.
Lưu ý thực tiễn khi chuẩn bị hồ sơ
Người yêu cầu cần kiểm tra trước xem giữa Việt Nam và nước có Tòa án đã ra bản án, quyết định có điều ước quốc tế về công nhận, thi hành hay không; nếu có, phải tuân thủ đúng danh mục giấy tờ theo điều ước, Điều 434 chỉ đóng vai trò “phần nền” cho trường hợp không có điều ước. Khi không có điều ước, nên làm việc sớm với Tòa án nước ngoài hoặc cơ quan có thẩm quyền để xin đúng mẫu văn bản xác nhận hiệu lực, thời hiệu thi hành, tống đạt và triệu tập hợp lệ, tránh nộp các văn bản chung chung, thiếu thông tin cốt lõi. Đồng thời, cần lựa chọn đơn vị dịch thuật chuyên nghiệp, bảo đảm bản dịch tiếng Việt được công chứng, chứng thực, giữ nguyên thuật ngữ pháp lý để Tòa án Việt Nam có thể đối chiếu, đánh giá chính xác nội dung bản án nước ngoài.