Điều 402 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: Xem xét yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu
Bình luận Điều 402 BLTTDS 2015 về thủ tục, thời hạn và hậu quả pháp lý khi yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu.
Điều 402. Xem xét yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu
1. Thời hạn chuẩn bị xét yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu là 10 ngày, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu là 15 ngày, kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu. Hết thời hạn này, Tòa án phải ra quyết định mở phiên họp để xét đơn yêu cầu.
2. Sau khi thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu, Tòa án có trách nhiệm gửi thông báo thụ lý cho người có đơn yêu cầu, người sử dụng lao động, tổ chức đại diện tập thể lao động và Viện kiểm sát cùng cấp.
3. Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn hoặc văn bản yêu cầu, nếu người yêu cầu rút yêu cầu thì Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn, văn bản yêu cầu.
4. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp, Tòa án phải mở phiên họp để xét yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu.
Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp, Tòa án phải mở phiên họp để xét yêu cầu tuyên bố thỏa ước lao động tập thể vô hiệu.
5. Khi xét đơn yêu cầu, Thẩm phán có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu.
Trường hợp chấp nhận yêu cầu thì Thẩm phán ra quyết định tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu. Trong quyết định này, Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu.
6. Quyết định tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu phải gửi đến người có đơn hoặc văn bản yêu cầu, người sử dụng lao động, tổ chức đại diện tập thể lao động và cơ quan quản lý nhà nước về lao động nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính, cơ quan quản lý nhà nước về lao động cùng cấp trong trường hợp có liên quan đến doanh nghiệp không có trụ sở chính tại Việt Nam.
Ý nghĩa và mục đích điều chỉnh
Điều 402 thiết lập cơ chế tố tụng riêng cho việc xem xét yêu cầu tuyên bố vô hiệu đối với hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể, phân biệt với giải quyết tranh chấp lao động thông thường. Cách thiết kế theo thủ tục việc dân sự giúp Tòa án tập trung vào tính hợp pháp của văn bản, không sa vào việc phân định quyền, nghĩa vụ cụ thể như trong vụ án. Đồng thời, điều luật bảo đảm việc kiểm soát tính hợp pháp của các thỏa thuận lao động diễn ra nhanh, kịp thời, hạn chế kéo dài tình trạng áp dụng một văn bản vô hiệu trên thực tế.
Thời hạn và tính chất bắt buộc về tố tụng
Thời hạn chuẩn bị xét yêu cầu 10 ngày đối với hợp đồng lao động và 15 ngày đối với thỏa ước lao động tập thể phản ánh mức độ ảnh hưởng rộng hơn của thỏa ước, cần nhiều thời gian rà soát hơn. Đây là các mốc tố tụng nhằm bảo đảm tính khẩn trương, Tòa án phải ra quyết định mở phiên họp sau khi hết thời hạn chuẩn bị, tránh việc kéo dài thụ lý nhưng không xử lý. Các thời hạn 5 ngày làm việc hoặc 10 ngày để mở phiên họp được hiểu là nghĩa vụ của Tòa án, nếu vi phạm là vi phạm tố tụng nhưng không mặc nhiên làm vô hiệu quyết định trừ khi gây thiệt hại nghiêm trọng.
Các chủ thể liên quan và phạm vi thông báo
Điều 402 yêu cầu sau khi thụ lý, Tòa án phải thông báo cho người yêu cầu, người sử dụng lao động, tổ chức đại diện tập thể lao động và Viện kiểm sát cùng cấp. Điều này thể hiện tính chất “công” của việc tuyên bố vô hiệu, bởi quyết định có khả năng tác động đến lợi ích của nhiều người lao động. Việc gửi quyết định đến cơ quan quản lý nhà nước về lao động nơi doanh nghiệp đặt trụ sở hoặc cơ quan cùng cấp đối với doanh nghiệp không có trụ sở tại Việt Nam bảo đảm cơ quan quản lý nắm được tình trạng pháp lý của các văn bản lao động để có biện pháp thanh tra, giám sát phù hợp.
Điều kiện kích hoạt và quyền rút yêu cầu
Điều luật được “kích hoạt” khi có đơn hoặc văn bản yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng lao động hoặc thỏa ước lao động tập thể, trên cơ sở các căn cứ vô hiệu được quy định trong Bộ luật Lao động và pháp luật có liên quan. Đây không phải là cơ chế tự động; Tòa án không tự mình mở thủ tục nếu không có yêu cầu hợp lệ. Trong giai đoạn chuẩn bị xét yêu cầu, người yêu cầu có quyền rút yêu cầu; khi đó Tòa án phải ra quyết định đình chỉ, chấm dứt việc xem xét, trừ trường hợp pháp luật lao động chuyên ngành quy định trường hợp bắt buộc phải kiểm tra, xử lý.
Thẩm quyền của Thẩm phán và xử lý hậu quả
Điều 402 trao cho Thẩm phán thẩm quyền chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu tuyên bố vô hiệu, phù hợp với bản chất việc dân sự – quyết định dựa trên hồ sơ và phiên họp, không xét xử theo thủ tục phiên tòa. Điểm cốt lõi là khi chấp nhận yêu cầu, Tòa án không chỉ tuyên vô hiệu mà còn phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc vô hiệu trong cùng quyết định. Đối với hợp đồng lao động, hậu quả thường gắn với việc xử lý tiền lương, bảo hiểm, thời gian làm việc, quyền lợi đã phát sinh và trách nhiệm hoàn trả hoặc bồi thường theo quy định của pháp luật lao động. Đối với thỏa ước lao động tập thể, Tòa án cần xác định hiệu lực của các thỏa thuận cá nhân đã được thiết lập dựa trên thỏa ước vô hiệu và việc áp dụng quy định pháp luật tương ứng thay thế.
Những nhầm lẫn thường gặp khi áp dụng
Một nhầm lẫn phổ biến là coi thủ tục này như một vụ án tranh chấp lao động, đòi hỏi hòa giải bắt buộc hoặc đầy đủ thủ tục xét xử sơ thẩm, phúc thẩm như vụ án; trong khi Điều 402 điều chỉnh việc dân sự, thủ tục gọn hơn và trọng tâm là tính hợp pháp của văn bản. Ngoài ra, cần phân biệt giữa yêu cầu tuyên bố vô hiệu với việc giải quyết hậu quả của vô hiệu trong một vụ án tranh chấp; điều 402 chỉ là “cửa” tố tụng để xác định tình trạng pháp lý của hợp đồng, thỏa ước, không thay thế hoàn toàn cơ chế giải quyết tranh chấp quyền lợi cụ thể giữa các bên. Cũng cần tránh hiểu sai rằng khi người yêu cầu rút yêu cầu thì mọi hậu quả của văn bản trái luật đều chấm dứt; việc rút yêu cầu chỉ chấm dứt thủ tục tại Tòa án, không làm hợp thức hóa một văn bản vốn trái luật theo quy định nội dung của pháp luật lao động.