Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: Thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu

Bình luận Điều 40 BLTTDS 2015 về thẩm quyền Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu và các lưu ý áp dụng.

Điều 40. Thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu

1. Nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động trong các trường hợp sau đây:

a) Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết;

b) Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết;

c) Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam hoặc vụ án về tranh chấp việc cấp dưỡng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết;

d) Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết;

đ) Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác đối với người lao động thì nguyên đơn là người lao động có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết;

e) Nếu tranh chấp phát sinh từ việc sử dụng lao động của người cai thầu hoặc người có vai trò trung gian thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi người sử dụng lao động là chủ chính cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi người cai thầu, người có vai trò trung gian cư trú, làm việc giải quyết;

g) Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết;

h) Nếu các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết;

i) Nếu tranh chấp bất động sản mà bất động sản có ở nhiều địa phương khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi có một trong các bất động sản giải quyết.

2. Người yêu cầu có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình trong các trường hợp sau đây:

a) Đối với các yêu cầu về dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 27 của Bộ luật này thì người yêu cầu có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi có tài sản của người bị yêu cầu giải quyết;

b) Đối với yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 29 của Bộ luật này thì người yêu cầu có thể yêu cầu Tòa án nơi cư trú của một trong các bên đăng ký kết hôn trái pháp luật giải quyết;

c) Đối với yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn thì người yêu cầu có thể yêu cầu Tòa án nơi người con cư trú giải quyết.

Mục đích và ý nghĩa của quyền lựa chọn Tòa án

Điều 40 BLTTDS 2015 thể hiện nguyên tắc tạo điều kiện tố tụng thuận lợi cho người khởi kiện, nhất là cá nhân, người lao động, người yêu cầu trong các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động. Quy định cho phép lựa chọn Tòa án trong một số trường hợp nhằm giảm chi phí đi lại, chi phí chứng cứ, đồng thời tránh việc bị đơn lợi dụng nơi cư trú, làm việc bất lợi để gây khó khăn cho nguyên đơn. Quyền lựa chọn này vẫn bị giới hạn bởi các quy định về thẩm quyền riêng biệt, thẩm quyền theo cấp và loại việc, nên không phải mọi vụ việc đều được tự do lựa chọn.

Các nhóm trường hợp trọng tâm cần nắm

Tranh chấp dân sự, thương mại, lao động – nguyên đơn là bên yếu thế

Khoản 1 Điều 40 phân loại khá rõ các tình huống để nguyên đơn được chọn Tòa án: trường hợp không xác định được nơi cư trú, trụ sở cuối cùng của bị đơn; tranh chấp phát sinh từ chi nhánh; bị đơn ở nước ngoài hoặc không có nơi cư trú tại Việt Nam; bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; tranh chấp lao động liên quan tiền lương, trợ cấp, bảo hiểm. Đáng lưu ý, nguyên đơn là người lao động được ưu tiên chọn Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, nhằm bảo vệ bên yếu thế trong quan hệ lao động. Với tranh chấp hợp đồng, quyền lựa chọn gắn với nơi thực hiện hợp đồng – đây là điểm quan trọng trong thực tiễn tranh chấp kinh doanh, thương mại.

Yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình – linh hoạt hơn so với tranh chấp

Khoản 2 Điều 40 mở rộng quyền cho người yêu cầu (không phải nguyên đơn) đối với các việc dân sự, hôn nhân và gia đình như yêu cầu tuyên bố một người mất tích, chết, hạn chế năng lực hành vi, các yêu cầu về hộ tịch, hôn nhân. Người yêu cầu được chọn giữa Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi có tài sản của người bị yêu cầu đối với các việc dân sự nhất định. Với yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật hoặc hạn chế quyền cha mẹ, quyền thăm nom con, điểm mấu chốt là gắn với nơi cư trú của bên liên quan trực tiếp (bên đăng ký kết hôn trái pháp luật hoặc nơi người con cư trú), nhằm bảo đảm lợi ích tốt nhất cho con và việc giải quyết thuận lợi.

Điều kiện “kích hoạt” quyền lựa chọn Tòa án

Quyền lựa chọn chỉ “kích hoạt” khi vụ việc thuộc loại tranh chấp hoặc yêu cầu được liệt kê cụ thể tại khoản 1 và khoản 2 Điều 40. Trước hết, phải xác định đúng đây là thẩm quyền theo lãnh thổ được phép lựa chọn, không thuộc trường hợp thẩm quyền riêng biệt như tranh chấp về bất động sản thuộc thẩm quyền nơi có bất động sản theo Điều 39 BLTTDS 2015. Tiếp đó, phải đáp ứng điều kiện thực tế nêu trong từng điểm: ví dụ, thực sự không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn; tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh; bị đơn không có nơi cư trú tại Việt Nam; tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng… Nếu không thỏa các điều kiện này, việc lựa chọn Tòa án khác sẽ bị xem là sai thẩm quyền.

Những nhầm lẫn thường gặp trong thực tiễn

Một nhầm lẫn phổ biến là coi Điều 40 như một “giấy thông hành” cho nguyên đơn chọn bất kỳ Tòa án thuận tiện nào, bỏ qua các quy định về thẩm quyền bắt buộc tại Điều 39 BLTTDS 2015 (như vụ việc liên quan bất động sản chỉ giải quyết tại nơi có bất động sản). Ngoài ra, nhiều người khởi kiện nhầm lẫn giữa “nơi bị đơn cư trú, làm việc” với nơi đăng ký thường trú, không chú ý đến nơi tạm trú hoặc nơi làm việc thực tế mà pháp luật chấp nhận. Đối với tranh chấp hợp đồng, có trường hợp cho rằng chỉ được khởi kiện tại nơi cư trú của bị đơn, bỏ qua lựa chọn quan trọng là nơi hợp đồng được thực hiện, dẫn đến bỏ mất lợi thế tố tụng.

Lưu ý khi áp dụng trong vụ việc cụ thể

Trước khi nộp đơn, cần rà soát đồng thời Điều 39 và Điều 40 BLTTDS 2015 để xác định ưu tiên: nếu vụ việc thuộc thẩm quyền riêng biệt thì không áp dụng quyền lựa chọn. Khi có nhiều bị đơn ở nhiều nơi khác nhau, nguyên đơn được chọn một Tòa án nơi bất kỳ bị đơn nào cư trú, làm việc, nhưng nên cân nhắc yếu tố thuận lợi về chứng cứ, nhân chứng, chi phí. Với tranh chấp có yếu tố nước ngoài (bị đơn không có nơi cư trú tại Việt Nam), việc lựa chọn nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn giúp giảm gánh nặng chứng minh và chi phí nhưng vẫn phải bảo đảm vụ việc thuộc thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam theo các quy định khác của BLTTDS 2015.

Nguyên đơn có được tùy ý chọn bất kỳ Tòa án nào khi khởi kiện không?
Không. Nguyên đơn chỉ được chọn trong các trường hợp và phạm vi cụ thể tại Điều 40, vẫn phải tôn trọng thẩm quyền riêng biệt và theo cấp Tòa án.
Người lao động có thể khởi kiện tranh chấp tiền lương tại nơi mình cư trú không?
Có. Đối với tranh chấp tiền lương, trợ cấp, bảo hiểm, người lao động được chọn Tòa án nơi mình cư trú hoặc làm việc theo điểm đ khoản 1 Điều 40 BLTTDS 2015.
Tranh chấp hợp đồng có thể khởi kiện tại nơi hợp đồng được thực hiện không?
Có. Nguyên đơn được lựa chọn Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện, bên cạnh các căn cứ thẩm quyền khác theo Điều 39 BLTTDS 2015.
Trong yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật, người yêu cầu chọn Tòa án theo tiêu chí nào?
Người yêu cầu có thể chọn Tòa án nơi cư trú của một trong các bên đã đăng ký kết hôn trái pháp luật, bảo đảm thuận tiện cho việc giải quyết vụ việc.
Tranh chấp bất động sản có được áp dụng Điều 40 để chọn nơi khởi kiện không?
Chỉ trong phạm vi Điều 40 cho phép khi bất động sản ở nhiều địa phương, nguyên đơn chọn một trong các nơi đó; vẫn phải tuân thủ thẩm quyền riêng biệt về bất động sản.
Mục lục văn bản