Điều 398 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: Đơn yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu

Bình luận Điều 398 BLTTDS 2015 về đơn yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu và các lưu ý áp dụng thực tiễn.

Điều 398. Đơn yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu

1. Công chứng viên đã thực hiện việc công chứng, người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu khi có căn cứ cho rằng việc công chứng có vi phạm pháp luật theo quy định của pháp luật về công chứng.

2. Đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu phải có các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 362 của Bộ luật này.

3. Kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu phải gửi tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu là có căn cứ và hợp pháp.

Vị trí của Điều 398 trong cơ chế kiểm soát hoạt động công chứng

Điều 398 không tự mình tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu mà chỉ quy định cửa ngõ tố tụng để đương sự khởi động thủ tục yêu cầu Tòa án xem xét hiệu lực văn bản công chứng. Nội dung về vi phạm pháp luật trong công chứng được xác định trên cơ sở pháp luật nội dung (ví dụ Luật Công chứng, Bộ luật Dân sự) và các điều kiện có hiệu lực của giao dịch. Do đó, khi áp dụng Điều 398 cần luôn đặt trong mối liên hệ với căn cứ vô hiệu theo điểm a khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015 và các quy định chuyên ngành về công chứng.

Chủ thể có quyền nộp đơn: phạm vi rộng, nhưng không tùy tiện

Điều luật mở rộng quyền yêu cầu cho nhiều chủ thể: công chứng viên đã thực hiện việc công chứng, người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc mở rộng này nhằm bảo đảm mọi bên bị ảnh hưởng bởi văn bản công chứng đều có công cụ tố tụng để bảo vệ quyền lợi khi có vi phạm pháp luật trong quá trình công chứng. Tuy nhiên, mỗi chủ thể chỉ được yêu cầu trong phạm vi quyền, lợi ích hợp pháp của mình; Tòa án sẽ xem xét điều kiện thụ lý, trong đó có tư cách và lợi ích liên quan của người yêu cầu.

Căn cứ kích hoạt: phải có cơ sở về vi phạm pháp luật công chứng

Điều 398 yêu cầu phải có căn cứ cho rằng việc công chứng vi phạm pháp luật công chứng, không phải chỉ là bất đồng về nội dung giao dịch giữa các bên. Dấu hiệu vi phạm thường xoay quanh điều kiện có hiệu lực của giao dịch, thẩm quyền, trình tự, thủ tục công chứng, năng lực, ý chí của các bên. Người yêu cầu cần phân biệt rõ: tranh chấp về nghĩa vụ hợp đồng đã công chứng (thường giải quyết bằng vụ án) khác với yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu (giải quyết bằng việc dân sự theo chương tương ứng của BLTTDS 2015).

Yêu cầu về nội dung đơn và nghĩa vụ chứng minh

Khoản 2 Điều 398 dẫn chiếu khoản 2 Điều 362 BLTTDS 2015, theo đó đơn yêu cầu phải bảo đảm đầy đủ các nội dung tố tụng cơ bản (thông tin người yêu cầu, nội dung yêu cầu, căn cứ, tài liệu kèm theo…). Việc dẫn chiếu nhằm thống nhất hình thức, giúp Tòa án dễ dàng kiểm tra điều kiện thụ lý và tránh thiếu sót làm kéo dài thời gian giải quyết. Khoản 3 nhấn mạnh nghĩa vụ chứng minh thuộc về người yêu cầu: phải kèm tài liệu, chứng cứ chứng minh vi phạm trong hoạt động công chứng và mối liên hệ giữa vi phạm đó với yêu cầu vô hiệu; nếu không, yêu cầu dễ bị bác do không đủ căn cứ.

Những nhầm lẫn thực tiễn và lưu ý khi áp dụng

Một nhầm lẫn thường gặp là cho rằng cứ không đồng ý với nội dung văn bản công chứng là có thể yêu cầu tuyên bố vô hiệu, trong khi Điều 398 chỉ bảo vệ trước vi phạm pháp luật trong công chứng, không phải mọi bất đồng thương lượng. Cũng cần lưu ý: việc công chứng viên thực hiện sai sót nhỏ về kỹ thuật (ví dụ lỗi chính tả, trình bày) chưa chắc dẫn đến vô hiệu hoàn toàn văn bản, mà có thể được đính chính hoặc sửa đổi theo quy định khác. Khi chuẩn bị hồ sơ, người yêu cầu nên xác định rõ loại vi phạm, viện dẫn căn cứ pháp lý liên quan (Luật Công chứng, Bộ luật Dân sự…) và thu thập chứng cứ phù hợp (hồ sơ công chứng, tài liệu nhân thân, giấy tờ tài sản, tài liệu thể hiện tình trạng sức khoẻ, năng lực hành vi tại thời điểm công chứng…) để tăng khả năng chấp nhận yêu cầu.

Ai có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu theo Điều 398 BLTTDS 2015?
Công chứng viên đã công chứng, người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Điều 398 BLTTDS 2015 áp dụng trong trường hợp nào về văn bản công chứng?
Áp dụng khi có căn cứ cho rằng việc công chứng văn bản có vi phạm pháp luật công chứng, làm ảnh hưởng điều kiện có hiệu lực của giao dịch hoặc quyền, lợi ích liên quan.
Đơn yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu phải đáp ứng yêu cầu hình thức gì?
Đơn phải có đầy đủ nội dung theo khoản 2 Điều 362 BLTTDS 2015, gồm thông tin người yêu cầu, nội dung, lý do, căn cứ và tài liệu, chứng cứ kèm theo.
Người yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu có nghĩa vụ chứng minh gì?
Họ phải cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh việc công chứng có vi phạm pháp luật và vi phạm đó là căn cứ để tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu.
Tranh chấp về thực hiện hợp đồng có công chứng có phải luôn yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu?
Không. Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ hợp đồng giải quyết bằng vụ án dân sự; chỉ khi có vi phạm pháp luật trong công chứng mới xem xét yêu cầu vô hiệu theo Điều 398.
Mục lục văn bản