Điều 375 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: Thủ tục tiến hành phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự
Bình luận Điều 375 BLTTDS 2015 về thủ tục phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự, phạm vi quyết định và lưu ý thực tiễn áp dụng.
Điều 375. Thủ tục tiến hành phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự
1. Phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự được tiến hành theo trình tự sau đây:
a) Thư ký phiên họp báo cáo về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên họp;
b) Thẩm phán chủ tọa phiên họp khai mạc phiên họp, kiểm tra về sự có mặt, vắng mặt của những người được triệu tập tham gia phiên họp và căn cước của họ, giải thích quyền và nghĩa vụ của người tham gia phiên họp;
c) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người kháng cáo, người kháng cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày về nội dung kháng cáo và căn cứ của việc kháng cáo;
Trường hợp chỉ có Viện kiểm sát kháng nghị thì Kiểm sát viên trình bày về nội dung kháng nghị và căn cứ của việc kháng nghị. Trường hợp vừa có kháng cáo, vừa có kháng nghị thì các đương sự trình bày về nội dung kháng cáo và các căn cứ của việc kháng cáo trước, sau đó Kiểm sát viên trình bày về nội dung kháng nghị và căn cứ của việc kháng nghị. Trường hợp Viện kiểm sát không kháng nghị thì Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết kháng cáo trước khi Hội đồng phúc thẩm ra quyết định.
Ngay sau khi kết thúc phiên họp, Kiểm sát viên phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ việc dân sự;
d) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày ý kiến về những vấn đề có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong nội dung kháng cáo, kháng nghị;
đ) Người làm chứng trình bày ý kiến; người giám định trình bày kết luận giám định, giải thích những vấn đề còn chưa rõ hoặc có mâu thuẫn.
2. Trường hợp có người được Tòa án triệu tập tham gia phiên họp vắng mặt thì Thẩm phán cho công bố lời khai, tài liệu, chứng cứ do người đó cung cấp.
3. Hội đồng phúc thẩm xem xét quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, tài liệu, chứng cứ có liên quan và ra một trong các quyết định sau đây:
a) Giữ nguyên quyết định giải quyết việc dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm;
b) Sửa quyết định giải quyết việc dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm;
c) Hủy quyết định giải quyết việc dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm và chuyển hồ sơ việc dân sự cho Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm;
d) Hủy quyết định giải quyết việc dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm và đình chỉ giải quyết việc dân sự;
đ) Đình chỉ giải quyết việc xét đơn yêu cầu theo thủ tục phúc thẩm nếu tại phiên họp tất cả người kháng cáo rút đơn kháng cáo, Viện kiểm sát rút kháng nghị.
4. Quyết định phúc thẩm giải quyết việc dân sự có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định và được gửi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 370 của Bộ luật này.
5. Quyết định phúc thẩm giải quyết việc dân sự có hiệu lực pháp luật được công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có), trừ quyết định có chứa thông tin quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này.
Vị trí và mục đích của Điều 375
Điều 375 điều chỉnh trình tự, thủ tục phiên họp phúc thẩm đối với việc dân sự, khác với phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự. Trọng tâm là bảo đảm phiên họp diễn ra có trật tự, các bên được trình bày đầy đủ lý do kháng cáo, kháng nghị, đồng thời tạo cơ sở hợp pháp cho Hội đồng phúc thẩm ra quyết định đúng phạm vi phúc thẩm. Quy định này cũng cụ thể hóa cơ chế kiểm sát của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự.
Trình tự phiên họp phúc thẩm và vai trò từng chủ thể
Khoản 1 Điều 375 thiết lập một trình tự chặt chẽ, bắt đầu từ báo cáo của Thư ký, kiểm tra sự có mặt, căn cước và giải thích quyền, nghĩa vụ của người tham gia phiên họp. Điều này bảo đảm tính hợp lệ của phiên họp và hạn chế tranh chấp về tố tụng sau này. Việc sắp xếp thứ tự phát biểu: người kháng cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, Kiểm sát viên, người làm chứng, người giám định, cho thấy mục tiêu là làm rõ nội dung kháng cáo/kháng nghị trên nền các chứng cứ và ý kiến chuyên môn.
Cơ chế linh hoạt đối với Viện kiểm sát (trường hợp chỉ kháng nghị, vừa kháng cáo vừa kháng nghị hoặc không kháng nghị) phản ánh sự phân định rạch ròi giữa quyền tự định đoạt của đương sự và chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp. Việc buộc Kiểm sát viên phải gửi văn bản phát biểu ý kiến ngay sau phiên họp để lưu hồ sơ tạo ra dấu vết pháp lý rõ ràng, phục vụ kiểm tra, giám đốc việc giải quyết sau này.
Xử lý trường hợp người được triệu tập vắng mặt
Khoản 2 cho phép Thẩm phán công bố lời khai, tài liệu, chứng cứ do người vắng mặt cung cấp. Điểm cốt lõi là bảo đảm tính liên tục, hiệu quả của phúc thẩm, không để phiên họp bị đình trệ chỉ vì vắng mặt, đồng thời vẫn sử dụng được chứng cứ đã thu thập hợp lệ. Tuy nhiên, điều này không làm mất đi quyền tranh luận về chứng cứ; các bên còn lại vẫn có thể nêu ý kiến đánh giá, bác bỏ hoặc đề nghị bổ sung chứng cứ nếu thấy cần thiết. Khi áp dụng, cần phân biệt rõ với trường hợp bắt buộc phải có mặt (ví dụ một số đối tượng cần đối chất trực tiếp) để tránh lạm dụng việc vắng mặt.
Phạm vi và loại quyết định phúc thẩm
Khoản 3 liệt kê các dạng quyết định phúc thẩm: giữ nguyên, sửa, hủy và chuyển giải quyết lại, hủy và đình chỉ, đình chỉ giải quyết xét đơn yêu cầu do rút kháng cáo/kháng nghị. Đây là khung thẩm quyền của Hội đồng phúc thẩm, đồng thời xác định rõ hậu quả pháp lý tương ứng. Việc hủy và chuyển hồ sơ về sơ thẩm cho thấy nếu có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hoặc sai lầm nghiêm trọng về nội dung mà không thể khắc phục tại phúc thẩm, thì phải quay lại cấp sơ thẩm để bảo đảm quyền được xét xử hai cấp.
Quyền đình chỉ giải quyết việc dân sự hoặc đình chỉ xét đơn yêu cầu khi tất cả người kháng cáo và Viện kiểm sát rút kháng nghị thể hiện nguyên tắc tự định đoạt của đương sự trong việc dân sự. Lưu ý rằng chỉ khi tất cả người kháng cáo rút kháng cáo và Viện kiểm sát rút kháng nghị thì Hội đồng phúc thẩm mới đình chỉ theo điểm đ khoản 3; nếu còn bất kỳ kháng cáo/kháng nghị nào thì phiên họp vẫn phải tiếp tục trong phạm vi đó.
Hiệu lực và công bố quyết định phúc thẩm
Khoản 4 xác định quyết định phúc thẩm có hiệu lực ngay từ ngày ban hành, không có thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm tự động mà chỉ được xem xét theo cơ chế đặc biệt nếu có căn cứ (quy định tại phần khác của Bộ luật). Do đó, sau phiên họp phúc thẩm, các bên phải lưu ý mốc thời gian hiệu lực để thực hiện hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ liên quan.
Khoản 5 về công bố quyết định phúc thẩm trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án khẳng định xu hướng tăng cường minh bạch, tạo điều kiện cho việc tham khảo án lệ, thực tiễn xét xử. Tuy nhiên, quyết định có chứa thông tin thuộc khoản 2 Điều 109 BLTTDS 2015 (bí mật nhà nước, đời sống riêng tư, bí mật kinh doanh…) được loại trừ để bảo vệ quyền nhân thân và lợi ích hợp pháp của các bên. Khi áp dụng, cần cân bằng giữa yêu cầu công khai và nghĩa vụ bảo mật.
Những nhầm lẫn thường gặp và lưu ý áp dụng
Nhầm lẫn giữa phiên họp việc dân sự và phiên tòa vụ án dân sự
Một nhầm lẫn phổ biến là coi phiên họp phúc thẩm việc dân sự giống như phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự. Trên thực tế, phiên họp có thủ tục đơn giản hơn, không có phần xét hỏi, tranh luận theo cấu trúc phiên tòa, nhưng vẫn phải tuân theo trình tự chặt chẽ tại Điều 375. Người tham gia cần chuẩn bị nội dung trình bày tập trung vào căn cứ kháng cáo, kháng nghị và chứng cứ liên quan, tránh tư duy “tranh tụng toàn diện” như trong vụ án.
Lưu ý về quyền rút kháng cáo, kháng nghị
Nhiều trường hợp đương sự không nắm rõ hậu quả pháp lý khi rút kháng cáo tại phiên họp phúc thẩm. Theo điểm đ khoản 3, nếu tất cả người kháng cáo rút kháng cáo và Viện kiểm sát rút kháng nghị, Hội đồng phúc thẩm đình chỉ xét đơn yêu cầu, làm cho quyết định sơ thẩm tiếp tục có hiệu lực. Do đó, trước khi rút, cần cân nhắc kỹ lưỡng, đánh giá triển vọng phúc thẩm và trao đổi với người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.
Chứng cứ và quyền trình bày tại phiên họp
Điều 375 không cho phép mở rộng vô hạn chứng cứ mới tại phiên họp, mà việc xem xét phải nằm trong phạm vi kháng cáo, kháng nghị và tuân theo quy định chung về cung cấp, giao nộp chứng cứ trong BLTTDS 2015. Người tham gia phiên họp nên bảo đảm chứng cứ đã được nộp hợp lệ từ trước, đồng thời tận dụng phần trình bày để làm rõ giá trị chứng minh của chứng cứ, nhất là trong trường hợp người cung cấp chứng cứ vắng mặt và lời khai được công bố thay thế.