Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh

Bình luận Điều 37 BLTTDS 2015 về thẩm quyền sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, trọng tâm phân định với cấp huyện.

Điều 37. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh

1. Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc sau đây:

a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này, trừ những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 35 của Bộ luật này;

b) Yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 27, 29, 31 và 33 của Bộ luật này, trừ những yêu cầu thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 35 của Bộ luật này;

c) Tranh chấp, yêu cầu quy định tại khoản 3 Điều 35 của Bộ luật này.

2. Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại Điều 35 của Bộ luật này mà Tòa án nhân dân cấp tỉnh tự mình lấy lên để giải quyết khi xét thấy cần thiết hoặc theo đề nghị của Tòa án nhân dân cấp huyện.

Ý nghĩa của quy định

Điều 37 thể hiện chủ trương giao Tòa án nhân dân cấp tỉnh xử lý sơ thẩm những vụ việc có tính chất quan trọng hơn, phạm vi rộng hơn hoặc đòi hỏi kinh nghiệm xét xử cao hơn. Cách thiết kế này giúp phân tầng thẩm quyền rõ ràng, giảm tải cho cấp huyện và bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật.

Về bản chất, đây là quy định về thẩm quyền theo cấp tòa, không phải là quy định về thẩm quyền theo lãnh thổ hay theo loại việc. Vì vậy, khi xác định có thuộc Điều 37 hay không, trước hết phải đối chiếu đúng nhóm tranh chấp, yêu cầu dân sự mà Bộ luật Tố tụng dân sự đã phân loại.

Những trường hợp cần nắm

Khoản 1 Điều 37 quy định Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết sơ thẩm các tranh chấp, yêu cầu thuộc các điều tương ứng của Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng loại trừ phần việc thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện theo Điều 35. Đây là điểm mấu chốt: không phải cứ là tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại hay lao động thì mặc nhiên thuộc cấp tỉnh.

Khoản 2 Điều 37 mở ra cơ chế “lấy lên” để giải quyết đối với vụ việc vốn thuộc cấp huyện nhưng được xét thấy cần thiết. Cơ chế này cho thấy cấp tỉnh không chỉ là cấp xét xử đối với nhóm việc được liệt kê sẵn, mà còn là cấp có thẩm quyền điều chuyển nội bộ nhằm bảo đảm hiệu quả xét xử trong những vụ việc phức tạp, nhạy cảm hoặc cần thống nhất về đường lối giải quyết.

Điều kiện để áp dụng

Muốn áp dụng Điều 37, trước hết phải xác định vụ việc đang là tranh chấp hoặc yêu cầu thuộc các nhóm được Bộ luật Tố tụng dân sự liệt kê. Sau đó phải kiểm tra xem vụ việc đó có bị loại trừ bởi thẩm quyền sơ thẩm của cấp huyện theo Điều 35 hay không. Chỉ khi không thuộc cấp huyện, hoặc thuộc trường hợp được cấp tỉnh lấy lên, mới xác lập đúng thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh.

Đối với khoản 2, căn cứ “cần thiết” phải được hiểu là nhu cầu tố tụng thực tế, chứ không phải sự lựa chọn tùy nghi của đương sự. Việc lấy vụ án lên thường gắn với tính chất phức tạp của quan hệ tranh chấp, số lượng đương sự, tính chất tài liệu chứng cứ, yêu cầu bảo đảm tính thống nhất hoặc yếu tố liên quan đến quản lý tư pháp.

Lỗi hiểu sai thường gặp

Sai lầm phổ biến là đồng nhất “vụ việc phức tạp” với “thuộc cấp tỉnh” mà không đối chiếu quy định loại trừ tại Điều 35. Cách hiểu này dẫn đến việc xác định thẩm quyền theo cảm tính, trong khi pháp luật yêu cầu phải xác định theo cấu trúc loại việc và cấp tòa.

Một nhầm lẫn khác là cho rằng đương sự có thể yêu cầu trực tiếp Tòa án nhân dân cấp tỉnh thụ lý mọi vụ việc mình cho là phức tạp. Trên thực tế, việc thụ lý vẫn phải dựa trên thẩm quyền luật định; khoản 2 Điều 37 chỉ cho phép cấp tỉnh lấy vụ việc lên khi xét thấy cần thiết hoặc theo đề nghị của cấp huyện, không tạo ra quyền lựa chọn tuyệt đối cho đương sự.

Lưu ý khi áp dụng

Khi làm việc với Điều 37, cần đặt nó trong mối liên hệ chặt chẽ với Điều 35 và các điều quy định từng nhóm tranh chấp, yêu cầu. Nếu chỉ đọc riêng Điều 37 sẽ dễ bỏ sót phần loại trừ và dẫn đến xác định sai cấp xét xử ngay từ giai đoạn nộp đơn.

Trong thực tiễn, xác định đúng thẩm quyền theo cấp không chỉ ảnh hưởng đến nơi nộp đơn, mà còn liên quan đến thời hạn giải quyết, chất lượng xét xử và khả năng bị chuyển hồ sơ. Vì vậy, Điều 37 là điều khoản có giá trị định hướng rất rõ: cấp tỉnh là nơi giải quyết sơ thẩm những vụ việc vượt khỏi khuôn khổ thông thường, hoặc cần được đưa lên để bảo đảm hiệu quả tố tụng.

Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền sơ thẩm trong những trường hợp nào?
Khi vụ việc thuộc các nhóm tranh chấp, yêu cầu được luật liệt kê nhưng không thuộc thẩm quyền cấp huyện, hoặc khi cấp tỉnh lấy vụ việc từ cấp huyện lên để giải quyết.
Đương sự có quyền chọn nộp thẳng hồ sơ lên Tòa án cấp tỉnh không?
Không. Thẩm quyền phải theo luật định; việc lấy vụ việc lên thuộc thẩm quyền tố tụng của Tòa án, không phải quyền lựa chọn tuyệt đối của đương sự.
Điều 37 có áp dụng cho mọi tranh chấp dân sự không?
Không. Chỉ áp dụng cho những nhóm việc được Bộ luật Tố tụng dân sự quy định và phải đối chiếu phần loại trừ thuộc thẩm quyền cấp huyện.
Khi nào vụ việc cấp huyện được chuyển lên cấp tỉnh?
Khi Tòa án cấp tỉnh xét thấy cần thiết hoặc theo đề nghị của Tòa án cấp huyện, thường do tính chất phức tạp, nhạy cảm hoặc yêu cầu bảo đảm thống nhất xét xử.
Sai lầm phổ biến nhất khi áp dụng Điều 37 là gì?
Nhầm lẫn giữa vụ việc phức tạp với vụ việc thuộc thẩm quyền cấp tỉnh, trong khi phải đối chiếu đầy đủ Điều 35 và các điều về từng loại tranh chấp.
Mục lục văn bản