Điều 366 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: Chuẩn bị xét đơn yêu cầu
Bình luận Điều 366 BLTTDS 2015 về thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, bổ sung chứng cứ, mở phiên họp và lưu ý áp dụng thực tiễn.
Điều 366. Chuẩn bị xét đơn yêu cầu
1. Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu là 01 tháng, kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác.
2. Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, Tòa án tiến hành công việc sau đây:
a) Trường hợp xét thấy tài liệu, chứng cứ chưa đủ căn cứ để Tòa án giải quyết thì Tòa án yêu cầu đương sự bổ sung tài liệu, chứng cứ trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Tòa án;
b) Trường hợp đương sự có yêu cầu hoặc khi xét thấy cần thiết thì Thẩm phán ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ; triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá tài sản. Nếu hết thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu quy định tại khoản 1 Điều này mà chưa có kết quả giám định, định giá tài sản thì thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu được kéo dài nhưng không quá 01 tháng;
c) Quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu và trả lại đơn yêu cầu, tài liệu, chứng cứ kèm theo nếu người yêu cầu rút đơn yêu cầu;
d) Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự.
3. Tòa án phải gửi ngay quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự và hồ sơ việc dân sự cho Viện kiểm sát cùng cấp để nghiên cứu. Viện kiểm sát phải nghiên cứu trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ; hết thời hạn này, Viện kiểm sát phải trả hồ sơ cho Tòa án để mở phiên họp giải quyết việc dân sự.
4. Tòa án phải mở phiên họp để giải quyết việc dân sự trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp.
Ý nghĩa của giai đoạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu
Điều 366 thể hiện quan điểm xử lý việc dân sự theo hướng nhanh, gọn nhưng vẫn bảo đảm căn cứ. Trước khi mở phiên họp, Tòa án phải kiểm tra tính đầy đủ của đơn, tài liệu và chứng cứ; đây là “cửa lọc” để tránh đưa vụ việc chưa chín muồi ra giải quyết. Vì vậy, điều luật không chỉ quy định thời hạn mà còn xác lập trách nhiệm chủ động của Tòa án trong việc hoàn thiện hồ sơ.
Các mốc thời hạn cần nắm
Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu là 01 tháng kể từ ngày Tòa án thụ lý, trừ trường hợp Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 có quy định khác. Nếu phải chờ kết quả giám định hoặc định giá tài sản mà chưa có trong thời hạn này, thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu được kéo dài nhưng không quá 01 tháng. Đây là thời hạn tố tụng có tính định hướng rõ ràng, nên việc chậm trễ không được xem là trạng thái bình thường của thủ tục.
Điều kiện để áp dụng đúng điều luật
Điều 366 được kích hoạt khi Tòa án đã thụ lý đơn yêu cầu trong việc dân sự. Trong giai đoạn này, Tòa án chỉ xử lý các nhiệm vụ được liệt kê tại khoản 2: yêu cầu bổ sung tài liệu, thu thập chứng cứ, triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá, đình chỉ khi người yêu cầu rút đơn, hoặc ra quyết định mở phiên họp. Nói cách khác, đây là giai đoạn chuẩn bị hồ sơ và định hình phạm vi giải quyết, chưa phải là giai đoạn xét xử theo nghĩa tranh tụng đầy đủ.
Điểm thường bị hiểu sai
Nhiều người nhầm rằng hết 01 tháng là Tòa án bắt buộc phải có kết quả giải quyết cuối cùng. Thực tế, điều luật chỉ yêu cầu hoàn tất chuẩn bị xét đơn yêu cầu, sau đó mới mở phiên họp giải quyết việc dân sự trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp. Cũng cần phân biệt việc Tòa án yêu cầu bổ sung chứng cứ với việc đương sự có nghĩa vụ chứng minh: khi tài liệu chưa đủ, Tòa án có quyền yêu cầu bổ sung, nhưng đương sự vẫn phải chủ động bảo vệ yêu cầu của mình.
Lưu ý thực tiễn
Quy định tại khoản 3 cho thấy Viện kiểm sát có vai trò nghiên cứu hồ sơ trước khi phiên họp được mở, nhằm kiểm sát tính hợp pháp của quá trình giải quyết việc dân sự. Vì vậy, khi nộp đơn yêu cầu, người yêu cầu cần chuẩn bị hồ sơ ngay từ đầu để tránh việc bị yêu cầu bổ sung nhiều lần, làm kéo dài thời gian. Trong thực tiễn, điểm mấu chốt không nằm ở việc “đợi Tòa án thu thập toàn bộ”, mà ở việc hồ sơ phải đủ căn cứ để Tòa án chuyển sang giai đoạn mở phiên họp đúng hạn.