Điều 359 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: Thủ tục xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Bình luận ngắn gọn Điều 359 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 về thủ tục xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao.

Điều 359. Thủ tục xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

1. Sau khi nhận được yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội, kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội hoặc sau khi Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có văn bản đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 358 của Bộ luật này, Tòa án nhân dân tối cao gửi cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao bản sao văn bản yêu cầu, kiến nghị hoặc đề nghị đó kèm theo hồ sơ vụ án để Viện kiểm sát nhân dân tối cao nghiên cứu và chuẩn bị ý kiến phát biểu tại phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị, yêu cầu. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải trả lại hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tối cao.

2. Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội, kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc kể từ ngày Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có văn bản đề nghị thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải mở phiên họp để xem xét kiến nghị, đề nghị.

Tòa án nhân dân tối cao thông báo bằng văn bản về thời gian mở phiên họp để xem xét kiến nghị, đề nghị cho Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Đại diện Ủy ban tư pháp của Quốc hội được mời tham dự phiên họp của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xem xét kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội.

3. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét kiến nghị, đề nghị theo trình tự như sau:

a) Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tự mình hoặc phân công một thành viên Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao trình bày tóm tắt nội dung vụ án và quá trình giải quyết vụ án;

b) Đại diện Ủy ban tư pháp của Quốc hội, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao trình bày về nội dung kiến nghị, đề nghị; căn cứ của việc kiến nghị, đề nghị; phân tích, đánh giá các tình tiết của vụ án, chứng cứ cũ và chứng cứ mới bổ sung (nếu có) để làm rõ việc vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hoặc những tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

c) Trường hợp xem xét kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội hoặc xem xét đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phát biểu quan điểm và lý do nhất trí hoặc không nhất trí với kiến nghị, đề nghị đó.

Ý kiến phát biểu của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải thể hiện bằng văn bản, có chữ ký của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và phải được gửi cho Tòa án nhân dân tối cao trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc phiên họp;

d) Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thảo luận và biểu quyết theo đa số về việc nhất trí hoặc không nhất trí với kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

đ) Trường hợp nhất trí với kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội, kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định về việc mở phiên họp để xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đồng thời giao cho Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức nghiên cứu hồ sơ, báo cáo Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định tại phiên họp xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Trường hợp không nhất trí kiến nghị, đề nghị thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho cá nhân, cơ quan đã kiến nghị, đề nghị;

e) Mọi diễn biến tại phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị và các quyết định được thông qua tại phiên họp phải được ghi vào biên bản phiên họp và lưu hồ sơ xem xét kiến nghị, đề nghị;

g) Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao gửi cho Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy ban tư pháp của Quốc hội văn bản thông báo về việc Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nhất trí hoặc không nhất trí với kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

4. Theo yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc khi có quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc mở phiên họp để xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định tại điểm đ khoản 3 Điều này thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức việc nghiên cứu hồ sơ vụ án, xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ trong trường hợp cần thiết.

Việc nghiên cứu hồ sơ vụ án, xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ phải làm rõ có hay không có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

5. Trong thời hạn 04 tháng, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định tại khoản 2 Điều 358 của Bộ luật này hoặc kể từ ngày có quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định tại điểm đ khoản 3 Điều này, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải mở phiên họp với sự tham gia của toàn thể Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Tòa án nhân dân tối cao gửi cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao văn bản thông báo về thời gian mở phiên họp xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao kèm theo hồ sơ vụ án. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải trả lại hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tối cao.

Phiên họp Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải có sự tham dự của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trường hợp xét thấy cần thiết, Tòa án nhân dân tối cao có thể mời cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tham dự phiên họp.

6. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải tham dự phiên họp xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và phát biểu quan điểm về việc có hay không có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và quan điểm về việc giải quyết vụ án.

Ý kiến phát biểu của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải thể hiện bằng văn bản, có chữ ký của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và phải được gửi cho Tòa án nhân dân tối cao trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc phiên họp.

7. Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định quy định tại khoản 1 Điều 360 của Bộ luật này, Tòa án nhân dân tối cao gửi quyết định cho Ủy ban thường vụ Quốc hội, Ủy ban tư pháp của Quốc hội, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân đã giải quyết vụ án và các đương sự.

Ý nghĩa của cơ chế xem xét lại

Điều 359 được thiết kế để bảo đảm tính đúng đắn và kiểm soát nội bộ đối với quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, nhưng đồng thời vẫn giữ nguyên nguyên tắc ổn định của bản án, quyết định đã có hiệu lực. Nhà làm luật không mở ra một thủ tục “xét lại tự do”, mà chỉ cho phép tái xem xét trong phạm vi rất hẹp, gắn với vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc tình tiết quan trọng mới. Điều này phản ánh quan điểm cân bằng giữa tính chung thẩm của quyết định tư pháp và yêu cầu khắc phục sai lầm đặc biệt nghiêm trọng.

Điều kiện để kích hoạt thủ tục

Thủ tục chỉ được khởi động khi có yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội, kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội, kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao theo cơ chế của Điều 358 và Điều 359 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Không phải bất kỳ ý kiến phản ánh nào từ tổ chức, cá nhân cũng làm phát sinh thủ tục này. Điểm mấu chốt khi đánh giá hồ sơ là phải xác định được căn cứ pháp lý đủ mạnh để chứng minh sai lầm nghiêm trọng hoặc sự xuất hiện của tình tiết mới có khả năng làm thay đổi căn bản quyết định đã có.

Trình tự có tính “lọc” nhiều tầng

Trình tự tại Điều 359 cho thấy đây là một cơ chế được kiểm soát rất chặt. Trước hết, Viện kiểm sát nhân dân tối cao được gửi hồ sơ để nghiên cứu, chuẩn bị ý kiến; sau đó Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao mới họp xem xét kiến nghị, đề nghị. Nếu chấp nhận xem xét tiếp, Tòa án nhân dân tối cao còn phải tổ chức nghiên cứu hồ sơ, xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ khi cần thiết trước khi mở phiên họp xem xét lại quyết định.

Điểm đáng chú ý là điều luật quy định rõ nhiều mốc thời hạn: 15 ngày, 01 tháng, 04 tháng và 05 ngày làm việc. Các thời hạn này nhằm bảo đảm việc xem xét lại không kéo dài tùy tiện, đồng thời buộc các chủ thể tiến hành tố tụng phải xử lý hồ sơ trong khuôn khổ thời gian xác định. Trong thực tiễn, đây là căn cứ quan trọng để đánh giá tính hợp lệ của trình tự.

Những điểm dễ hiểu sai

Không nên hiểu Điều 359 là một cấp xét xử thứ tư hay một thủ tục kháng nghị thông thường. Đây là cơ chế đặc biệt, chỉ áp dụng với quyết định của chính Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và chỉ khi có căn cứ thật sự đặc biệt. Cũng không thể coi việc có kiến nghị, đề nghị là đương nhiên dẫn đến việc xem xét lại; Hội đồng Thẩm phán vẫn phải biểu quyết và có thể không chấp nhận.

Một nhầm lẫn khác là cho rằng chỉ cần có tình tiết mới là đủ. Trên thực tế, tình tiết mới phải là tình tiết quan trọng và phải đủ mức làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định. Nếu chỉ là thông tin bổ sung không tác động đáng kể đến bản chất vụ án thì không đáp ứng yêu cầu của điều luật.

Lưu ý khi áp dụng trong vụ việc cụ thể

Khi viện dẫn Điều 359, cần xác định rõ nguồn kiến nghị, đề nghị, cơ quan có thẩm quyền và giai đoạn thủ tục tương ứng. Hồ sơ phải tập trung chứng minh đúng một trong hai nhóm căn cứ: vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc tình tiết quan trọng mới. Việc trình bày lan man, trùng lặp với lập luận của cấp xét xử trước đó thường không đủ giá trị để thuyết phục Hội đồng Thẩm phán mở lại việc xem xét.

Trong thực tiễn, giá trị lớn nhất của điều luật này nằm ở việc tạo ra cơ chế tự kiểm soát ở cấp xét xử cao nhất, nhưng vẫn giữ tính thận trọng rất cao. Vì vậy, khi nghiên cứu hoặc áp dụng, cần nhìn Điều 359 như một thủ tục đặc biệt, ngoại lệ và có điều kiện chặt chẽ, chứ không phải công cụ để yêu cầu xem xét lại mọi quyết định không đồng ý.

Giá trị thực tiễn cần ghi nhớ

  • Chỉ áp dụng đối với quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
  • Căn cứ xem xét lại phải là vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc tình tiết quan trọng mới.
  • Thủ tục có nhiều tầng kiểm tra, không mở lại tự động khi có kiến nghị, đề nghị.
  • Thời hạn tố tụng ngắn, cần chuẩn bị hồ sơ và lập luận rất trọng tâm.
Điều 359 có phải là thủ tục kháng cáo không?
Không. Đây là thủ tục đặc biệt để xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao khi có căn cứ rất chặt chẽ.
Chỉ cần có tình tiết mới là được xem xét lại không?
Không. Tình tiết mới phải là tình tiết quan trọng, đủ làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định đã ban hành.
Ai có quyền đề nghị, kiến nghị theo Điều 359?
Ủy ban thường vụ Quốc hội, Ủy ban tư pháp của Quốc hội, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao theo thẩm quyền luật định.
Hội đồng Thẩm phán có bắt buộc chấp nhận kiến nghị không?
Không. Hội đồng Thẩm phán thảo luận, biểu quyết theo đa số và có thể không nhất trí với kiến nghị, đề nghị.
Điều 359 có áp dụng cho mọi bản án đã có hiệu lực không?
Không. Điều này chỉ điều chỉnh việc xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao trong cơ chế đặc biệt của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Mục lục văn bản