Điều 337 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: Thẩm quyền giám đốc thẩm

Bình luận pháp lý Điều 337 BLTTDS 2015 về thẩm quyền giám đốc thẩm, thành phần Hội đồng và tiêu chí vụ án phức tạp.

Điều 337. Thẩm quyền giám đốc thẩm

1. Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị như sau:

a) Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao xét xử giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm ba Thẩm phán đối với bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm;

b) Toàn thể Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao xét xử giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật quy định tại điểm a khoản này nhưng có tính chất phức tạp hoặc bản án, quyết định đã được Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao xét xử giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm ba Thẩm phán nhưng không đạt được sự thống nhất khi biểu quyết thông qua quyết định về việc giải quyết vụ án.

2. Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao bị kháng nghị như sau:

a) Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm năm Thẩm phán đối với bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp cao bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm;

b) Toàn thể Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật quy định tại điểm a khoản này nhưng có tính chất phức tạp hoặc bản án, quyết định đã được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm năm Thẩm phán nhưng không đạt được sự thống nhất khi biểu quyết thông qua quyết định về việc giải quyết vụ án.

3. Những vụ án có tính chất phức tạp quy định tại điểm b khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều này là những vụ án thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Quy định của pháp luật về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án chưa rõ ràng, chưa được hướng dẫn áp dụng thống nhất;

b) Việc đánh giá chứng cứ, áp dụng pháp luật có nhiều ý kiến khác nhau;

c) Việc giải quyết vụ án liên quan đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, bảo vệ quyền con người, quyền công dân được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm.

4. Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao xem xét, quyết định việc tổ chức xét xử giám đốc thẩm trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định việc tổ chức xét xử giám đốc thẩm trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

5. Trường hợp những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật về cùng một vụ án dân sự cùng thuộc thẩm quyền giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao và Tòa án nhân dân tối cao thì Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền giám đốc thẩm toàn bộ vụ án.

Ý nghĩa và mục đích của Điều 337

Điều 337 nhằm phân định rành mạch thẩm quyền giám đốc thẩm giữa Tòa án nhân dân cấp cao và Tòa án nhân dân tối cao, tránh trùng lặp, chồng chéo khi xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Quy định về thành phần Hội đồng xét xử và tiêu chí vụ án phức tạp thể hiện yêu cầu nâng cao chất lượng, tính thận trọng của hoạt động giám đốc thẩm. Đồng thời, điều luật bảo đảm những vụ án có tác động rộng hoặc còn vướng mắc áp dụng pháp luật sẽ được xem xét bởi tập thể thẩm phán có thẩm quyền cao hơn, tăng tính thống nhất trong xét xử.

Trọng tâm về thẩm quyền theo cấp và lãnh thổ

Khoản 1 Điều 337 xác định rõ Tòa án nhân dân cấp cao có thẩm quyền giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp tỉnh, TAND cấp huyện trong phạm vi lãnh thổ quản lý, khi có kháng nghị giám đốc thẩm. Đây là tuyến giám đốc thẩm đầu tiên, xử lý các sai lầm nghiêm trọng ở cấp sơ thẩm, phúc thẩm địa phương. Khoản 2 chuyển thẩm quyền lên Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp cao, bảo đảm tính phân tầng và tránh tình trạng cùng một cấp vừa xét xử, vừa tự giám đốc thẩm. Người áp dụng cần xác định đúng cấp xét xử đã ban hành bản án, quyết định để định vị thẩm quyền giám đốc thẩm tương ứng.

Thành phần Hội đồng xét xử và ý nghĩa thực tiễn

Điều 337 thiết lập hai chế độ xét xử giám đốc thẩm ở mỗi cấp: Hội đồng xét xử thu hẹp và toàn thể tập thể thẩm phán. Ở TAND cấp cao, Hội đồng ba thẩm phán được sử dụng cho đa số vụ án, bảo đảm tính linh hoạt và tiết kiệm nguồn lực, trong khi toàn thể Ủy ban Thẩm phán được huy động cho vụ án phức tạp hoặc khi Hội đồng ba thẩm phán không đạt được biểu quyết thống nhất. Cơ chế tương tự được áp dụng ở TAND tối cao với Hội đồng năm thẩm phán và toàn thể Hội đồng Thẩm phán. Người hành nghề cần lưu ý: việc đưa vụ án lên toàn thể tập thể thẩm phán không phải là quyền yêu cầu của đương sự mà là quyết định tổ chức xét xử nội bộ của Chánh án theo khoản 4 Điều 337, dựa trên tính chất vụ án và tình trạng biểu quyết.

Tiêu chí “vụ án có tính chất phức tạp” và phạm vi áp dụng

Khoản 3 Điều 337 đưa ra tiêu chí định tính nhưng khá cụ thể để xác định vụ án phức tạp. Thứ nhất, khi quy định pháp luật liên quan chưa rõ ràng hoặc chưa được hướng dẫn áp dụng thống nhất; đây thường là các vụ án nêu ra vấn đề pháp lý mới, chưa được án lệ hoặc văn bản hướng dẫn giải đáp. Thứ hai, khi đánh giá chứng cứ, áp dụng pháp luật có nhiều ý kiến khác nhau trong nội bộ cơ quan tiến hành tố tụng hoặc giới chuyên môn, cho thấy nguy cơ thiếu thống nhất trong đường lối xét xử. Thứ ba, khi vụ án liên quan lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước, quyền con người, quyền công dân và được dư luận đặc biệt quan tâm, cần sự xem xét ở cấp cao nhất để bảo đảm tính chính danh và định hướng chung. Những tiêu chí này không dùng để mở rộng quyền kháng nghị, mà để xác định hình thức tổ chức xét xử giám đốc thẩm (Hội đồng thu hẹp hay toàn thể).

Quyền quyết định hình thức xét xử giám đốc thẩm của Chánh án

Khoản 4 phân định thẩm quyền nội bộ: Chánh án TAND cấp cao quyết định việc xét xử giám đốc thẩm theo chế độ Hội đồng ba thẩm phán hay toàn thể Ủy ban Thẩm phán; Chánh án TAND tối cao quyết định tương tự đối với Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao. Điều này nhấn mạnh rằng yêu cầu của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ràng buộc trực tiếp hình thức xét xử; quyết định mang tính quản trị tư pháp và chuyên môn. Trong thực tiễn, lập luận của người kiến nghị kháng nghị nên tập trung chứng minh vụ án thuộc một trong các trường hợp phức tạp nêu tại khoản 3 để tăng khả năng được xem xét ở cấp độ toàn thể, nhưng không thể đòi hỏi như một quyền thủ tục.

Giải quyết xung đột thẩm quyền giữa TAND cấp cao và TAND tối cao

Khoản 5 là điểm then chốt, giải quyết tình huống đặc biệt: cùng một vụ án dân sự có nhiều bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, trong đó có quyết định thuộc thẩm quyền giám đốc thẩm của TAND cấp cao và có quyết định thuộc thẩm quyền giám đốc thẩm của TAND tối cao. Trong trường hợp này, TAND tối cao nắm thẩm quyền giám đốc thẩm toàn bộ vụ án, bảo đảm sự thống nhất, tránh trường hợp mỗi cấp giám đốc thẩm một phần, dẫn đến mâu thuẫn. Khi nghiên cứu hồ sơ, người áp dụng cần rà soát đầy đủ lịch sử tố tụng, xác định tất cả bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật liên quan cùng một vụ án để định vị đúng cơ quan giám đốc thẩm duy nhất.

Những nhầm lẫn thường gặp và lưu ý khi áp dụng

Nhầm lẫn về “cấp giám đốc thẩm” và “cấp xét xử ban đầu”

Một nhầm lẫn phổ biến là cho rằng vụ án xét xử phúc thẩm tại TAND cấp cao thì chỉ TAND tối cao mới có thẩm quyền giám đốc thẩm. Thực tế, cần tách bạch: nếu bản án, quyết định bị kháng nghị là của TAND cấp tỉnh, cấp huyện thì thẩm quyền giám đốc thẩm thuộc TAND cấp cao; nếu là bản án, quyết định của chính TAND cấp cao thì thẩm quyền thuộc TAND tối cao. Nhầm lẫn này dẫn tới kiến nghị, kháng nghị gửi sai cơ quan hoặc lập luận sai trọng tâm.

Nhầm lẫn giám đốc thẩm với phúc thẩm, tái thẩm

Giám đốc thẩm theo Điều 337 chỉ xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật khi có kháng nghị theo luật, không phải là “một cấp phúc thẩm thứ hai” hay thủ tục khiếu nại thông thường. Khác với tái thẩm, giám đốc thẩm tập trung vào sai lầm nghiêm trọng trong áp dụng pháp luật, đánh giá chứng cứ, chứ không nhằm xử lý tình tiết mới phát sinh sau khi bản án có hiệu lực. Do đó, việc viện dẫn Điều 337 chỉ có ý nghĩa sau khi đã có kháng nghị hợp lệ; bản thân điều luật không tạo thêm một quyền kháng cáo cho đương sự.

Lưu ý về chiến lược kháng nghị và lập luận

Khi xây dựng kiến nghị kháng nghị giám đốc thẩm, ngoài việc chứng minh căn cứ kháng nghị theo các điều luật tương ứng, người hành nghề nên chú trọng: xác định đúng cấp thẩm quyền giám đốc thẩm theo cấu trúc Điều 337; chỉ rõ nếu vụ án có tính chất phức tạp thuộc một trong các trường hợp tại khoản 3 để thuyết phục về nhu cầu xét xử ở cấp tập thể rộng hơn; tránh yêu cầu vượt quá khuôn khổ (như yêu cầu đích danh hình thức Hội đồng), vốn là thẩm quyền tổ chức xét xử của Chánh án. Điều này giúp hồ sơ tập trung, tránh lạc đề, nâng cao khả năng được xem xét nghiêm túc.

Thẩm quyền giám đốc thẩm bản án của Tòa án nhân dân cấp tỉnh thuộc về cơ quan nào?
Theo Điều 337, thẩm quyền giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp tỉnh thuộc TAND cấp cao trong phạm vi theo lãnh thổ.
Khi nào vụ án được xét xử giám đốc thẩm bởi toàn thể Ủy ban Thẩm phán TAND cấp cao?
Khi vụ án có tính chất phức tạp theo khoản 3 Điều 337 hoặc Hội đồng ba thẩm phán không đạt được sự thống nhất khi biểu quyết quyết định giải quyết vụ án.
Ai quyết định việc xét xử giám đốc thẩm bằng Hội đồng thu hẹp hay toàn thể thẩm phán?
Chánh án TAND cấp cao quyết định đối với khoản 1, Chánh án TAND tối cao quyết định đối với khoản 2 Điều 337, dựa trên tính chất vụ án và yêu cầu xét xử.
Trường hợp cùng một vụ án có cả quyết định thuộc thẩm quyền TAND cấp cao và TAND tối cao thì giải quyết thế nào?
Khoản 5 Điều 337 quy định TAND tối cao có thẩm quyền giám đốc thẩm toàn bộ vụ án để bảo đảm tính thống nhất và tránh xung đột thẩm quyền giữa hai cấp.
Tiêu chí nào để xác định vụ án có tính chất phức tạp trong giám đốc thẩm?
Gồm ba nhóm: quy định pháp luật chưa rõ hoặc chưa được hướng dẫn thống nhất; đánh giá chứng cứ, áp dụng luật có nhiều ý kiến khác nhau; vụ án liên quan lợi ích công cộng, Nhà nước, quyền con người, quyền công dân.
Mục lục văn bản