Điều 331 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
Bình luận pháp lý Điều 331 BLTTHS 2015 về thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, phạm vi áp dụng và lưu ý thực tiễn.
Điều 331. Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
1. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao; bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
2. Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.
Vị trí và mục đích của Điều 331
Điều 331 BLTTHS 2015 quy định về chủ thể có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, qua đó thiết lập cơ chế kiểm soát đặc biệt đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật trong tố tụng hình sự. Mục tiêu là bảo đảm tính hợp pháp, chính xác và thống nhất của các phán quyết, đồng thời hạn chế tối đa việc lạm dụng thủ tục giám đốc thẩm. Việc chỉ trao thẩm quyền này cho một số chức danh tư pháp cao nhất phản ánh định hướng coi giám đốc thẩm là thủ tục đặc biệt, không phải là “cấp xét xử” thông thường.
Chủ thể và phạm vi thẩm quyền kháng nghị
Nhóm chủ thể ở cấp tối cao
Chánh án TAND tối cao và Viện trưởng VKSND tối cao có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp cao, cũng như của các Tòa án khác khi xét thấy cần thiết. Phạm vi này mang tính toàn quốc, không bị giới hạn bởi lãnh thổ hay cấp xét xử, ngoại trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã được loại trừ khỏi đối tượng kháng nghị. Đây là điểm bảo đảm tính ổn định tối đa cho các quyết định giám đốc thẩm ở cấp cao nhất.
Nhóm chủ thể ở cấp cao
Chánh án TAND cấp cao và Viện trưởng VKSND cấp cao có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp tỉnh và TAND cấp huyện trong phạm vi lãnh thổ thuộc thẩm quyền của Tòa án, Viện kiểm sát mình. Như vậy, thẩm quyền của cấp cao được phân định theo vùng lãnh thổ và theo cấp xét xử (chỉ đối với cấp huyện, tỉnh), không vươn tới các bản án, quyết định của TAND cấp cao hoặc các Tòa án “ngoài vùng” khác.
Điều kiện “kích hoạt” việc áp dụng thủ tục giám đốc thẩm
Điều 331 chỉ quy định về người có thẩm quyền; để thủ tục giám đốc thẩm được kích hoạt còn phải thỏa mãn các điều kiện về căn cứ kháng nghị quy định tại các điều luật khác của BLTTHS 2015 (như có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật, phát hiện chứng cứ mới quan trọng làm thay đổi cơ bản nội dung vụ án...). Việc kháng nghị không đương nhiên xuất hiện chỉ vì có đơn đề nghị của đương sự hay người tham gia tố tụng, mà phải qua quá trình rà soát, đánh giá của các chủ thể có thẩm quyền về sự cần thiết dùng đến cơ chế giám đốc thẩm.
Những nhầm lẫn thường gặp trong thực tiễn
Một nhầm lẫn phổ biến là cho rằng bất cứ ai có quyền “kháng cáo giám đốc thẩm”; thực tế Điều 331 phân biệt rõ kháng cáo (ở cấp phúc thẩm) với kháng nghị giám đốc thẩm, trong đó kháng nghị thuộc thẩm quyền riêng của các chức danh tư pháp nhất định. Người bị kết án, bị hại, đương sự chỉ có quyền gửi đơn đề nghị xem xét giám đốc thẩm, không có quyền trực tiếp kháng nghị. Nhầm lẫn thứ hai là suy nghĩ rằng mọi bản án, quyết định của Tòa án đều có thể bị kháng nghị giám đốc thẩm bởi bất kỳ chủ thể nào nêu tại Điều 331, trong khi mỗi nhóm chủ thể bị giới hạn bởi phạm vi cấp xét xử và lãnh thổ.
Lưu ý thực tiễn khi vận dụng Điều 331
Trong thực tiễn, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, người bị kết án, bị hại hoặc các bên liên quan cần nắm rõ Ai là người có thẩm quyền kháng nghị đối với bản án, quyết định cụ thể trong vụ việc của mình. Từ đó, việc soạn thảo, gửi đơn đề nghị xem xét giám đốc thẩm phải hướng tới đúng cơ quan, đúng chức danh có thẩm quyền, tránh tình trạng gửi đơn tràn lan hoặc gửi sai địa chỉ dẫn đến kéo dài thời gian, giảm khả năng được xem xét. Đồng thời, cần nhận thức rằng giám đốc thẩm là thủ tục đặc biệt, chỉ áp dụng trong những trường hợp thực sự có căn cứ pháp lý vững chắc về việc bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật chứa đựng sai lầm nghiêm trọng.