Điều 328 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: Đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm

Bình luận Điều 328 BLTTHS 2015 về yêu cầu nội dung, chứng cứ và nơi gửi đơn đề nghị giám đốc thẩm, giúp soạn đơn đúng luật.

Điều 328. Đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm

1. Đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm làm đơn đề nghị;

b) Tên, địa chỉ của người đề nghị;

c) Tên bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm;

d) Lý do đề nghị, yêu cầu của người đề nghị;

đ) Người đề nghị là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ; người đề nghị là cơ quan, tổ chức thì người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn; trường hợp tổ chức đề nghị là doanh nghiệp thì việc sử dụng con dấu được thực hiện theo quy định của Luật doanh nghiệp.

2. Kèm theo đơn đề nghị, người đề nghị phải gửi bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, tài liệu, chứng cứ (nếu có) để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

3. Đơn đề nghị và tài liệu, chứng cứ được gửi cho người có thẩm quyền kháng nghị quy định tại Điều 331 của Bộ luật này.

Mục đích và ý nghĩa của Điều 328

Điều 328 nhằm chuẩn hóa đơn đề nghị giám đốc thẩm như một điều kiện thủ tục bắt buộc trước khi người có thẩm quyền xem xét kháng nghị. Quy định này bảo đảm việc xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm chỉ được kích hoạt khi yêu cầu được trình bày đầy đủ, rõ ràng, có căn cứ. Đồng thời, đây là cơ sở để sàng lọc những đơn khiếu nại cảm tính, thiếu chứng cứ, góp phần bảo đảm tính ổn định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.

Các nội dung bắt buộc trong đơn – điểm cần nắm

Khoản 1 Điều 328 liệt kê cụ thể các nội dung chính phải có trong đơn. Về bản chất, các nội dung này tạo thành một “khung tối thiểu” gồm: thông tin nhận diện đơn (ngày, tháng, năm), thông tin người đề nghị (tên, địa chỉ), thông tin về bản án/quyết định bị đề nghị xem xét, lý do và yêu cầu cụ thể. Thiếu một trong các nhóm thông tin cốt lõi này, đơn thường bị coi là không bảo đảm hình thức, gây khó khăn hoặc kéo dài thời gian xem xét.

Phần lý do đề nghị và yêu cầu là trọng tâm pháp lý: đây là nơi người đề nghị cần nêu rõ những vi phạm pháp luật nghiêm trọng, sai lầm trong việc áp dụng pháp luật hoặc xác định sự thật vụ án theo hướng phù hợp với các căn cứ giám đốc thẩm quy định tại các điều khác của BLTTHS. Việc chỉ nêu cảm xúc, bức xúc hoặc lặp lại nội dung đã được Tòa án các cấp xem xét mà không chỉ ra lỗi pháp lý cụ thể thường không đủ để thuyết phục người có thẩm quyền kháng nghị.

Hình thức chữ ký, con dấu – điều kiện về chủ thể

Khoản 1 nhấn mạnh việc người đề nghị phải ký tên hoặc điểm chỉ nếu là cá nhân, hoặc người đại diện hợp pháp ký tên, đóng dấu nếu là cơ quan, tổ chức. Đây là yêu cầu nhằm xác định rõ chủ thể chịu trách nhiệm về nội dung đơn, đồng thời ngăn ngừa đơn nặc danh hoặc mạo danh. Đối với doanh nghiệp, việc sử dụng con dấu phải tuân theo Luật Doanh nghiệp, bảo đảm tính hợp lệ của chữ ký và dấu.

Một nhầm lẫn thường gặp là cho rằng chữ ký của bất kỳ cán bộ, nhân viên trong cơ quan, tổ chức là đủ. Trên thực tế, BLTTHS yêu cầu người ký phải là đại diện hợp pháp; việc ký sai thẩm quyền có thể dẫn tới việc đơn không được xem xét trên thực tế, hoặc phải bổ sung, xác nhận lại, làm kéo dài thời gian.

Tài liệu, chứng cứ kèm theo – nghĩa vụ chứng minh của người đề nghị

Theo khoản 2, người đề nghị phải gửi kèm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và các tài liệu, chứng cứ (nếu có) để chứng minh yêu cầu là có căn cứ và hợp pháp. Điều này thể hiện rõ nguyên tắc: người đề nghị không chỉ nêu ý kiến mà cần chứng minh cho quan điểm của mình, đặc biệt trong các trường hợp viện dẫn chứng cứ mới hoặc chỉ ra sai sót nghiêm trọng trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ.

Lưu ý quan trọng là tài liệu, chứng cứ phải có nguồn gốc, hình thức hợp pháp, có thể được kiểm chứng; việc gửi các bản sao không rõ nguồn gốc, tài liệu bị tẩy xóa hoặc không liên quan đến nội dung kháng nghị thường làm giảm giá trị tham khảo, thậm chí bị loại khỏi hồ sơ xem xét.

Nơi gửi đơn – điều kiện “kích hoạt” thẩm quyền kháng nghị

Khoản 3 quy định đơn đề nghị và tài liệu, chứng cứ được gửi cho người có thẩm quyền kháng nghị quy định tại Điều 331 BLTTHS. Như vậy, để “kích hoạt” thủ tục giám đốc thẩm, người đề nghị cần xác định đúng cơ quan, người có thẩm quyền (Viện trưởng, Chánh án liên quan) tương ứng với cấp xét xử đã ban hành bản án, quyết định. Việc gửi sai đối tượng có thể dẫn tới việc đơn bị chuyển tiếp qua nhiều cấp, làm chậm quá trình xem xét.

Trong thực tiễn, người dân hay nhầm lẫn giữa việc gửi đơn kiến nghị, khiếu nại chung chung tới nhiều cơ quan với việc gửi đúng “địa chỉ” người có thẩm quyền kháng nghị theo BLTTHS. Điều 328, đọc cùng Điều 331, giúp người đề nghị định hướng chuẩn xác, tránh tình trạng đơn bị “vòng vo” mà không sớm được xem xét về nội dung.

Những hiểu sai thường gặp và lưu ý thực tiễn

Một hiểu sai phổ biến là cho rằng chỉ cần “kể lại vụ án” hoặc “kêu oan” là đủ để cơ quan có thẩm quyền xem xét giám đốc thẩm. Trên thực tế, giám đốc thẩm là thủ tục đặc biệt, chỉ đặt ra khi có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng pháp luật tố tụng hoặc nội dung, nên đơn phải thể hiện rõ được những vi phạm này, gắn với căn cứ pháp luật cụ thể.

Lưu ý khác là nhiều người gửi đơn nhiều lần, thay đổi nội dung, nhưng vẫn lặp lại lỗi không nêu rõ lý do và không kèm chứng cứ phù hợp. Điều 328 cho thấy, muốn tăng khả năng được xem xét, người đề nghị cần chuẩn bị kỹ: rà soát bản án, chỉ ra sai sót pháp lý, kèm tài liệu chứng minh, trình bày logic, rõ ràng. Đây là cách tiếp cận phù hợp với tinh thần chuẩn hóa thủ tục mà quy định hướng tới.

Nếu đơn đề nghị giám đốc thẩm thiếu phần lý do cụ thể thì có được xem xét không?
Lý do đề nghị là nội dung trọng tâm; nếu không nêu rõ vi phạm pháp luật, đơn khó được xem xét về nội dung hoặc bị yêu cầu bổ sung.
Cá nhân không biết chữ có thể nộp đơn đề nghị giám đốc thẩm như thế nào?
Cá nhân không biết chữ có thể điểm chỉ vào đơn; nên có người làm chứng hoặc người hỗ trợ ghi nội dung đơn để bảo đảm tính xác thực.
Doanh nghiệp không sử dụng con dấu tròn, chỉ dùng chữ ký số thì đơn đề nghị có hợp lệ không?
Việc sử dụng con dấu của doanh nghiệp phải tuân theo Luật Doanh nghiệp và quy chế nội bộ; cần bảo đảm hình thức xác nhận phù hợp quy định hiện hành.
Có bắt buộc phải gửi kèm bản chính bản án khi nộp đơn đề nghị giám đốc thẩm không?
Luật yêu cầu gửi kèm bản án, quyết định đã có hiệu lực; thực tiễn thường chấp nhận bản sao hợp lệ, nhưng nên theo hướng dẫn cụ thể của cơ quan có thẩm quyền.
Có thể gửi đơn đề nghị giám đốc thẩm tới nhiều cơ quan cùng lúc để nhanh được xem xét không?
Nên gửi đúng người có thẩm quyền kháng nghị theo BLTTHS; việc gửi tràn lan nhiều nơi không làm nhanh hơn mà có thể gây chậm do phải chuyển đơn.
Mục lục văn bản