Điều 327 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: Phát hiện bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật cần xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm

Phân tích Điều 327 BLTTDS 2015 về cơ chế phát hiện, đề nghị, thông báo và kiến nghị xem xét giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực.

Điều 327. Phát hiện bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật cần xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm

1. Trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu phát hiện có vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định đó thì đương sự có quyền đề nghị bằng văn bản với người có thẩm quyền kháng nghị quy định tại Điều 331 của Bộ luật này để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

2. Trường hợp Tòa án, Viện kiểm sát hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác phát hiện có vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì phải thông báo bằng văn bản cho người có thẩm quyền kháng nghị quy định tại Điều 331 của Bộ luật này.

3. Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh kiến nghị Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao hoặc Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao kiến nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nếu phát hiện có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 326 của Bộ luật này.

Ý nghĩa và mục đích của Điều 327

Điều 327 không mở rộng thẩm quyền giám đốc thẩm mà thiết lập cơ chế phát hiện, kiến nghị, thông báo

Trọng tâm cần nắm khi áp dụng Điều 327

Thứ nhất, đương sự chỉ có quyền đề nghịthông báo bằng văn bản

Thứ ba, Điều 327 phân định rõ vai trò kiến nghị của Chánh án TAND cấp tỉnh, Chánh án TAND cấp cao lên Chánh án TAND tối cao khi phát hiện căn cứ theo khoản 1 Điều 326 BLTTDS 2015; đây là tuyến kiến nghị nội bộ trong hệ thống Tòa án, khác với đề nghị của đương sự hoặc thông báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác.

Điều kiện kích hoạt cơ chế đề nghị, thông báo, kiến nghị

Điều kiện đối với quyền đề nghị của đương sự

Để quyền đề nghị được xem xét, cần hội đủ các yếu tố: (i) đã có bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật; (ii) phát hiện vi phạm pháp luật trong

Điều kiện đối với thông báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân

Đối với Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác, Điều 327 nhấn mạnh nghĩa vụ thông báo

Điều kiện đối với kiến nghị của Chánh án các cấp Tòa án

Khoản 3 Điều 327 đặt ra thêm điều kiện nội dung: phải có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 326 BLTTDS 2015

Những cách hiểu sai thường gặp

Một nhầm lẫn phổ biến là cho rằng Điều 327 trao cho đương sự “quyền kháng nghị giám đốc thẩm”. Trên thực tế, đương sự chỉ có quyền đề nghị xem xét kháng nghị

Cũng khá thường gặp việc coi mọi “bất công” hoặc tranh chấp phát sinh trong thi hành án là vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định để yêu cầu giám đốc thẩm. Điều 327 chỉ hướng đến vi phạm pháp luật trong nội dung hoặc trình tự, thủ tục tố tụng

Lưu ý khi áp dụng trong thực tiễn

Đương sự cần chuẩn bị hồ sơ đề nghị chặt chẽ: nêu rõ bản án, quyết định bị cho là vi phạm, phân tích cụ thể vi phạm pháp luật, viện dẫn căn cứ pháp lý tương ứng, kèm chứng cứ và gửi đúng địa chỉ của người có thẩm quyền theo Điều 331 BLTTDS 2015, trong thời hạn 01 năm. Việc trình bày mơ hồ, chỉ nêu cảm nhận về “không thỏa đáng” mà không chỉ ra vi phạm pháp luật cụ thể thường không được xem xét nghiêm túc.

Đối với Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan, tổ chức, cá nhân khi phát hiện vi phạm, cần lập văn bản thông báo rõ ràng, đầy đủ nội dung vi phạm, tránh thông báo chung chung, thiếu căn cứ. Đối với Chánh án các cấp Tòa án, trước khi kiến nghị cần đối chiếu kỹ với các căn cứ tại khoản 1 Điều 326 BLTTDS 2015 để bảo đảm tính thuyết phục, đồng thời không biến cơ chế giám đốc thẩm thành “cấp xét xử thứ tư” làm suy giảm tính ổn định của bản án đã có hiệu lực.

Đương sự có được trực tiếp kháng nghị giám đốc thẩm theo Điều 327 BLTTDS 2015 không?
Không. Đương sự chỉ có quyền đề nghị bằng văn bản; quyền kháng nghị thuộc về các chủ thể có thẩm quyền theo Điều 331 BLTTDS 2015.
Thời hạn 01 năm trong khoản 1 Điều 327 tính từ thời điểm nào?
Thời hạn 01 năm được tính từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, không phải từ ngày đương sự phát hiện vi phạm.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân phát hiện vi phạm có bắt buộc phải thông báo không?
Có. Khoản 2 Điều 327 quy định rõ nghĩa vụ phải thông báo bằng văn bản cho người có thẩm quyền kháng nghị khi phát hiện vi phạm pháp luật.
Kiến nghị của Chánh án TAND cấp tỉnh theo khoản 3 Điều 327 có phải là quyết định kháng nghị?
Không. Kiến nghị là đề xuất gửi Chánh án TAND cấp cao hoặc TAND tối cao; việc kháng nghị thuộc thẩm quyền và quyết định của người nhận kiến nghị.
Những vi phạm nào là căn cứ để kiến nghị xem xét giám đốc thẩm theo Điều 327?
Chỉ các vi phạm đáp ứng căn cứ tại khoản 1 Điều 326 BLTTDS 2015 như vi phạm nghiêm trọng tố tụng hoặc nội dung ảnh hưởng quyền, lợi ích hợp pháp.
Mục lục văn bản