Điều 318 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn

Bình luận Điều 318 BLTTDS 2015 về quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn, thời hạn, nội dung bắt buộc và lưu ý áp dụng.

Điều 318. Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn

1. Trong thời hạn không quá 01 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 195 của Bộ luật này, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn và mở phiên tòa xét xử trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định.

2. Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm ra quyết định;

b) Tên Tòa án ra quyết định;

c) Vụ án được đưa ra xét xử theo thủ tục rút gọn;

d) Tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của nguyên đơn, bị đơn hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện quy định tại Điều 187 của Bộ luật này, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

đ) Họ, tên Thẩm phán, Thư ký Tòa án; họ, tên Thẩm phán dự khuyết (nếu có);

e) Họ, tên Kiểm sát viên; họ, tên Kiểm sát viên dự khuyết (nếu có);

g) Ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm mở phiên tòa;

h) Xét xử công khai hoặc xét xử kín;

i) Họ, tên những người được triệu tập tham gia phiên tòa.

3. Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn phải được gửi ngay cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp.

Trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật này thì Tòa án phải gửi hồ sơ vụ án cùng quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát cùng cấp; trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Viện kiểm sát phải nghiên cứu và trả lại hồ sơ cho Tòa án.

Mục đích và ý nghĩa của Điều 318

Điều 318 nhằm bảo đảm tính nhanh chóng, đơn giản của thủ tục rút gọn nhưng vẫn giữ được sự minh bạch và kiểm soát tố tụng. Việc ấn định rõ thời hạn ra quyết định và mở phiên tòa buộc Thẩm phán phải chủ động, tránh kéo dài vụ án vốn đã đủ điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn. Đồng thời, hình thức và nội dung bắt buộc của quyết định giúp các bên biết chính xác phạm vi, thời gian, địa điểm và thành phần tham gia phiên tòa, hạn chế tranh chấp về thủ tục.

Thời hạn ra quyết định và mở phiên tòa

Trọng tâm đầu tiên là thời hạn 01 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án (theo khoản 3, khoản 4 Điều 195 BLTTDS 2015) để Thẩm phán ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn. Thời hạn này thể hiện tính khẩn trương của thủ tục rút gọn, khác với tiến độ thông thường của vụ án dân sự. Sau khi ra quyết định, Tòa án phải mở phiên tòa trong 10 ngày, cho thấy nhà làm luật coi việc kéo dài giai đoạn chuẩn bị xét xử là không phù hợp với bản chất rút gọn. Khi áp dụng, cần lưu ý đây là thời hạn tối đa, Thẩm phán có thể ra quyết định và mở phiên tòa sớm hơn nếu điều kiện đã đầy đủ.

Nội dung bắt buộc của quyết định

Điều 318 liệt kê chi tiết các nội dung cơ bản bắt buộc trong quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn. Đáng chú ý là: xác định rõ vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn; thông tin của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; thành phần Hội đồng xét xử và Kiểm sát viên (kể cả dự khuyết); thời gian, địa điểm, hình thức xét xử (công khai hoặc kín) và danh sách người được triệu tập. Việc ghi rõ thủ tục rút gọn trong quyết định không chỉ mang tính hình thức mà còn là căn cứ để các bên đánh giá xem Tòa án đã lựa chọn đúng thủ tục hay chưa, từ đó bảo vệ quyền tố tụng của mình.

Vai trò của Viện kiểm sát và lưu thông hồ sơ

Khoản 3 Điều 318 nhấn mạnh trách nhiệm gửi ngay quyết định cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp, bảo đảm quyền giám sát tố tụng và quyền được thông tin của các bên. Trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa theo khoản 2 Điều 21 BLTTDS 2015, Tòa án phải gửi cả hồ sơ vụ án và quyết định cho Viện kiểm sát. Thời hạn 03 ngày làm việc để Viện kiểm sát nghiên cứu và trả hồ sơ cho Tòa án là rất ngắn, phù hợp với tính chất rút gọn, nhưng cũng đòi hỏi hồ sơ phải đầy đủ, rõ ràng ngay từ giai đoạn chuẩn bị. Nếu Tòa án chậm gửi hoặc gửi không đầy đủ, nguy cơ ảnh hưởng đến quyền phát biểu, tranh luận và kiểm sát của Kiểm sát viên là rất lớn.

Những nhầm lẫn thường gặp và lưu ý áp dụng

Một nhầm lẫn phổ biến là cho rằng chỉ cần vụ án đủ điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn (Điều 316 BLTTDS 2015) là đương nhiên phải xét xử rút gọn. Thực tế, việc áp dụng còn phụ thuộc vào đánh giá của Thẩm phán và việc ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn; nếu không có quyết định này, vụ án vẫn được xét xử theo thủ tục thông thường. Một nhầm lẫn khác là coi thủ tục rút gọn làm giảm yêu cầu về việc tống đạt, thông báo; trong khi Điều 318 vẫn đòi hỏi Tòa án phải gửi quyết định ngay, bảo đảm đương sự có đủ thời gian chuẩn bị tham gia phiên tòa. Khi áp dụng, Thẩm phán cần đặc biệt lưu ý: (i) tuân thủ chặt chẽ thời hạn; (ii) ghi đầy đủ nội dung bắt buộc trong quyết định; (iii) thực hiện đúng nghĩa vụ gửi quyết định và hồ sơ cho Viện kiểm sát, nhất là khi Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, để tránh bị coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Nếu Tòa án không ra quyết định trong 01 tháng kể từ ngày thụ lý thì thủ tục rút gọn có còn được áp dụng không?
Quá thời hạn 01 tháng, về nguyên tắc Tòa án không còn đáp ứng yêu cầu về tính nhanh chóng của thủ tục rút gọn và thường phải chuyển sang thủ tục thông thường.
Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn có bắt buộc phải ghi rõ đây là vụ án rút gọn không?
Có. Quyết định phải ghi rõ vụ án được đưa ra xét xử theo thủ tục rút gọn để xác định đúng cơ chế tố tụng và bảo đảm quyền của đương sự, Kiểm sát viên.
Sau khi ra quyết định, Tòa án có thể mở phiên tòa sau 10 ngày không?
Không. 10 ngày là thời hạn tối đa để mở phiên tòa kể từ ngày ra quyết định; mở muộn hơn là vi phạm yêu cầu về tính nhanh chóng của thủ tục rút gọn.
Viện kiểm sát có bao lâu để nghiên cứu hồ sơ khi tham gia phiên tòa rút gọn?
Viện kiểm sát có 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án và quyết định đưa vụ án ra xét xử để nghiên cứu và trả lại hồ sơ cho Tòa án.
Nếu quyết định thiếu thông tin về người tham gia phiên tòa thì có ảnh hưởng đến hiệu lực phiên tòa không?
Quyết định thiếu nội dung bắt buộc có thể bị coi là vi phạm thủ tục tố tụng, làm phát sinh nguy cơ bị hủy, sửa án nếu ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của đương sự.
Mục lục văn bản