Điều 31 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: Những yêu cầu về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Bình luận Điều 31 BLTTDS 2015 về thẩm quyền Tòa án với các yêu cầu kinh doanh, thương mại, công nhận bản án, phán quyết nước ngoài.

Điều 31. Những yêu cầu về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

1. Yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, nghị quyết của Hội đồng thành viên theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp.

2. Yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại.

3. Yêu cầu bắt giữ tàu bay, tàu biển theo quy định của pháp luật về hàng không dân dụng Việt Nam, về hàng hải Việt Nam, trừ trường hợp bắt giữ tàu bay, tàu biển để bảo đảm giải quyết vụ án.

4. Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của Tòa án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam.

5. Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết kinh doanh, thương mại của Trọng tài nước ngoài.

6. Các yêu cầu khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.

Vị trí và mục đích của Điều 31

Điều 31 đặt ra danh mục các yêu cầu về kinh doanh, thương mại mà Tòa án được giải quyết, bổ sung cho quy định về tranh chấp tại Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Mục tiêu là phân định rõ khi nào doanh nghiệp, cá nhân phải dùng thủ tục yêu cầu, khi nào dùng thủ tục khởi kiện, đồng thời xác định phạm vi can thiệp của Tòa án đối với phán quyết, nghị quyết, quyết định của các thiết chế khác như doanh nghiệp, trọng tài, Tòa án nước ngoài. Qua đó, Điều 31 góp phần tránh chồng lấn thẩm quyền với cơ quan hành chính, trọng tài và bảo đảm an toàn pháp lý cho các quan hệ kinh doanh, thương mại.

Những nhóm yêu cầu trọng tâm

Yêu cầu hủy nghị quyết nội bộ doanh nghiệp

Khoản 1 Điều 31 điều chỉnh yêu cầu hủy nghị quyết Đại hội đồng cổ đông, nghị quyết Hội đồng thành viên theo Luật Doanh nghiệp. Trọng tâm là bảo vệ quyền, lợi ích của thành viên, cổ đông khi nghị quyết bị thông qua trái trình tự, thẩm quyền, nội dung vi phạm pháp luật hoặc điều lệ. Người đọc cần lưu ý: đây là yêu cầu độc lập về tố tụng, không nhất thiết gắn với một vụ án tranh chấp hợp đồng hay bồi thường; và chỉ những chủ thể, trong thời hạn, với căn cứ được Luật Doanh nghiệp quy định mới có quyền yêu cầu.

Yêu cầu liên quan đến Trọng tài thương mại Việt Nam

Khoản 2 bao quát các yêu cầu liên quan đến hoạt động giải quyết tranh chấp của Trọng tài thương mại Việt Nam theo Luật Trọng tài thương mại. Thực tiễn thường gặp là yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, yêu cầu chỉ định, thay thế trọng tài viên, yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Điểm cần nắm là thẩm quyền Tòa án trong lĩnh vực này mang bản chất hỗ trợ, giám sát hoạt động trọng tài, không phải Tòa án trực tiếp giải quyết nội dung tranh chấp đã thuộc phạm vi trọng tài.

Bắt giữ tàu bay, tàu biển

Khoản 3 quy định thẩm quyền giải quyết yêu cầu bắt giữ tàu bay, tàu biển theo pháp luật hàng không dân dụng và hàng hải, ngoại trừ trường hợp bắt giữ để bảo đảm giải quyết vụ án (lúc đó thuộc thủ tục tố tụng trong vụ án). Đây là yêu cầu mang tính bảo đảm, phục vụ việc thực thi quyền tài sản, quyền yêu cầu thanh toán, thường phát sinh trước hoặc song song với việc khởi kiện. Người áp dụng cần phân biệt rõ bắt giữ theo thủ tục yêu cầu độc lập với bắt giữ như biện pháp khẩn cấp trong một vụ án kinh doanh, thương mại.

Công nhận, không công nhận bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài

Khoản 4 dành cho yêu cầu công nhận và cho thi hành, hoặc không công nhận bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của Tòa án nước ngoài, kể cả trường hợp chỉ yêu cầu không công nhận mà không thi hành tại Việt Nam. Đây là cơ chế tố tụng đặc thù của tư pháp quốc tế, nhằm tạo điều kiện lưu thông phán quyết giữa các quốc gia nhưng vẫn bảo vệ chủ quyền xét xử và trật tự công. Trọng tâm áp dụng là kiểm tra điều kiện về thẩm quyền, thủ tục, bảo đảm quyền được xét xử công bằng, cũng như không trái nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

Công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài

Khoản 5 điều chỉnh yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết kinh doanh, thương mại của trọng tài nước ngoài. Cần phân biệt với khoản 4 ở chỗ đối tượng tại đây là phán quyết trọng tài, chịu sự điều chỉnh của pháp luật trọng tài quốc tế và các điều ước quốc tế liên quan (như Công ước New York 1958). Khi áp dụng, Tòa án không xem xét lại nội dung tranh chấp mà chủ yếu kiểm tra điều kiện hình thức, căn cứ từ chối công nhận theo luật nội địa và điều ước quốc tế.

Các yêu cầu kinh doanh, thương mại khác

Khoản 6 đóng vai trò điều khoản “mở”, bao quát các yêu cầu khác về kinh doanh, thương mại không liệt kê cụ thể nhưng thuộc thẩm quyền Tòa án và không thuộc thẩm quyền cơ quan, tổ chức khác. Ví dụ điển hình là một số yêu cầu liên quan đến phá sản, giải thể, nhất định về chứng thực, xác nhận tình trạng pháp lý của doanh nghiệp khi luật chuyên ngành giao cho Tòa án. Khi vận dụng khoản này, cần đối chiếu kỹ luật chuyên ngành để tránh lấn sang thẩm quyền của cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan quản lý chuyên ngành hoặc trọng tài.

Điều kiện “kích hoạt” thẩm quyền theo Điều 31

Để Điều 31 được áp dụng, trước hết yêu cầu phải phát sinh từ quan hệ kinh doanh, thương mại theo định nghĩa tại Điều 3 BLTTDS 2015 và luật chuyên ngành, gắn với hoạt động sinh lợi, quản lý doanh nghiệp, vận chuyển, thương mại quốc tế. Thứ hai, phải đúng loại việc mà Điều 31 liệt kê (hủy nghị quyết, yêu cầu liên quan trọng tài, bắt giữ tàu bay/tàu biển, công nhận hoặc không công nhận bản án, quyết định, phán quyết nước ngoài, yêu cầu khác). Thứ ba, yêu cầu không thuộc thẩm quyền cơ quan, tổ chức khác, ví dụ nhiều việc về đăng ký doanh nghiệp, đăng ký tàu bay, tàu biển thuộc cơ quan hành chính, không phải Tòa án. Cuối cùng, người yêu cầu phải có quyền, đủ điều kiện, đủ thời hạn theo luật nội dung tương ứng: Luật Doanh nghiệp, Luật Trọng tài thương mại, Luật Hàng hải, Luật Hàng không dân dụng, các điều ước quốc tế.

Những nhầm lẫn thường gặp và lưu ý áp dụng

Một nhầm lẫn phổ biến là coi mọi tranh chấp kinh doanh, thương mại đều “thuộc Điều 31”, trong khi Điều 31 chỉ dành cho yêu cầu, còn tranh chấp phải căn cứ Điều 30 và các điều về khởi kiện vụ án. Nhầm lẫn thứ hai là yêu cầu Tòa án xem xét lại nội dung bản án nước ngoài hoặc phán quyết trọng tài nước ngoài, trong khi thủ tục công nhận chỉ đánh giá điều kiện công nhận, không xét lại tranh chấp. Ngoài ra, nhiều bên đương sự chưa tách bạch thủ tục bắt giữ tàu bay, tàu biển theo yêu cầu độc lập với biện pháp khẩn cấp bảo đảm giải quyết vụ án, dẫn đến lựa chọn sai loại việc.

Khi áp dụng Điều 31 vào tình huống cụ thể, cần: xác định rõ loại việc là yêu cầu hay vụ án; đối chiếu luật chuyên ngành về điều kiện chủ thể, căn cứ, thời hạn; xem xét yếu tố nước ngoài, điều ước quốc tế liên quan; và thẩm định thẩm quyền theo cấp, theo lãnh thổ. Việc xác định đúng Điều 31 làm cơ sở cho việc lựa chọn mẫu đơn (đơn yêu cầu thay vì đơn khởi kiện), trình tự thủ tục rút gọn hay đầy đủ, cũng như xác định rõ phạm vi xem xét của Tòa án (hỗ trợ, giám sát, hay quyết định nội dung yêu cầu).

Điều 31 BLTTDS 2015 khác Điều 30 ở điểm cốt lõi nào?
Điều 30 quy định tranh chấp kinh doanh, thương mại cần khởi kiện vụ án, trong khi Điều 31 chỉ xác định các yêu cầu kinh doanh, thương mại giải quyết theo thủ tục việc dân sự.
Muốn hủy nghị quyết Đại hội đồng cổ đông thì áp dụng Điều 31 như thế nào?
Cổ đông có quyền, trong thời hạn theo Luật Doanh nghiệp, nộp đơn yêu cầu Tòa án hủy nghị quyết, căn cứ vào vi phạm trình tự, nội dung trái luật hoặc điều lệ, thuộc loại việc theo Điều 31.
Yêu cầu hủy phán quyết trọng tài Việt Nam có phải là tranh chấp không?
Yêu cầu hủy phán quyết trọng tài là việc dân sự theo Điều 31, Tòa án chỉ xem xét căn cứ hủy theo Luật Trọng tài thương mại, không giải quyết lại nội dung tranh chấp đã được trọng tài xử.
Khi nào Tòa án Việt Nam công nhận bản án kinh doanh, thương mại của Tòa án nước ngoài?
Tòa án công nhận khi có yêu cầu hợp lệ, bản án đáp ứng điều kiện về thẩm quyền, thủ tục, không trái nguyên tắc cơ bản pháp luật Việt Nam và phù hợp điều ước quốc tế, theo Điều 31 và luật liên quan.
Khoản 6 Điều 31 được dùng thế nào trong thực tiễn?
Khoản 6 là căn cứ tiếp nhận các yêu cầu kinh doanh, thương mại khác không nêu cụ thể, nhưng luật chuyên ngành giao cho Tòa án, với điều kiện không thuộc thẩm quyền cơ quan hành chính hoặc trọng tài.
Mục lục văn bản