Điều 221 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: Phát hiện và kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ văn bản quy phạm pháp luật

Bình luận Điều 221 BLTTDS 2015 về cơ chế Tòa án kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ văn bản quy phạm pháp luật trái Hiến pháp, luật.

Điều 221. Phát hiện và kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ văn bản quy phạm pháp luật

1. Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, nếu phát hiện văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến việc giải quyết vụ án dân sự có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên thì Tòa án thực hiện như sau:

a) Trường hợp chưa có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án báo cáo và đề nghị Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án có văn bản đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật;

b) Trường hợp đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc vụ án đang được xem xét tại phiên tòa hoặc đang được xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm thì Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 259 của Bộ luật này và báo cáo Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án có văn bản đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật.

2. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của Chánh án Tòa án cấp dưới thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phải xem xét và xử lý như sau:

a) Trường hợp đề nghị có căn cứ thì phải ra văn bản kiến nghị gửi cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật và thông báo cho Tòa án đã đề nghị để ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án;

b) Trường hợp đề nghị không có căn cứ thì phải ra văn bản trả lời cho Tòa án đã đề nghị để tiếp tục giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật.

3. Cơ quan nhận được kiến nghị của Tòa án về việc sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật có trách nhiệm giải quyết như sau:

a) Đối với văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên bị kiến nghị xem xét thì trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được kiến nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, cơ quan đã ban hành văn bản đó phải xem xét và trả lời bằng văn bản cho Tòa án nhân dân tối cao; nếu quá thời hạn này mà không nhận được văn bản trả lời thì Tòa án áp dụng văn bản có hiệu lực cao hơn để giải quyết vụ án;

b) Trường hợp kiến nghị xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật là luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ của Quốc hội thì thực hiện theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Mục đích và ý nghĩa trọng tâm của Điều 221

Điều 221 nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ án dân sự luôn đặt Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên ở vị trí tối thượng trong hệ thống pháp luật. Cơ chế phát hiện và kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ văn bản quy phạm pháp luật giúp tránh tình trạng Tòa án buộc phải áp dụng văn bản dưới luật trái với văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn. Quy định cũng khẳng định vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ trật tự pháp lý, đồng thời gián tiếp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự khi pháp luật dưới luật có khiếm khuyết.

Điều kiện kích hoạt cơ chế kiến nghị

Điều 221 chỉ được áp dụng khi Tòa án đang giải quyết vụ án dân sự cụ thể và phát hiện văn bản quy phạm pháp luật liên quan trực tiếp đến việc giải quyết vụ án có dấu hiệu trái Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên. Không phải mọi nghi ngờ trừu tượng về tính hợp hiến, hợp pháp đều kích hoạt quy định này; phải có sự liên quan thực tế giữa văn bản có dấu hiệu trái luật và nội dung cần áp dụng trong vụ án. Ngoài ra, cơ chế chỉ áp dụng đối với văn bản quy phạm pháp luật, không áp dụng với văn bản áp dụng pháp luật, quyết định cá biệt.

Phân định trách nhiệm giữa Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Chánh án

Vai trò của Thẩm phán và Hội đồng xét xử

Điểm a khoản 1 Điều 221 quy định Thẩm phán là chủ thể trực tiếp phát hiện và báo cáo khi chưa có quyết định đưa vụ án ra xét xử. Đây là giai đoạn chuẩn bị xét xử, nên việc kiến nghị được thực hiện qua Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án, chưa ảnh hưởng đến tiến độ phiên tòa. Điểm b khoản 1 Điều 221 dành cho trường hợp vụ án đã đưa ra xét xử, đang xét xử hoặc xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm; khi đó Hội đồng xét xử có thẩm quyền tạm ngừng phiên tòa theo điểm e khoản 1 Điều 259 BLTTDS 2015 để tránh việc xét xử dựa trên văn bản có dấu hiệu trái luật. Sự phân định này bảo đảm linh hoạt theo từng giai đoạn tố tụng, đồng thời giữ tính tập trung của Hội đồng xét xử trong bảo vệ tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản áp dụng.

Vai trò của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao

Khoản 2 Điều 221 giao cho Chánh án Tòa án nhân dân tối cao trách nhiệm thẩm tra và quyết định có kiến nghị hay không trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị của Chánh án Tòa án cấp dưới. Thẩm quyền này mang tính "lọc" nhằm tránh tình trạng kiến nghị tràn lan, thiếu căn cứ, đồng thời thống nhất quan điểm của hệ thống Tòa án về tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản. Khi đề nghị có căn cứ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phải ban hành văn bản kiến nghị và thông báo cho Tòa án đã đề nghị để tạm đình chỉ giải quyết vụ án; nếu không có căn cứ, Tòa án cấp dưới tiếp tục giải quyết vụ án theo pháp luật hiện hành.

Cơ chế xử lý của cơ quan ban hành văn bản

Khoản 3 Điều 221 phân biệt hai nhóm văn bản: văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành (văn bản dưới luật, dưới nghị quyết…) và văn bản là luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đối với văn bản dưới luật, cơ quan ban hành phải xem xét và trả lời bằng văn bản trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được kiến nghị. Nếu quá thời hạn mà không trả lời, Tòa án có quyền áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn để giải quyết vụ án, bảo đảm không để vụ án "treo" vô thời hạn vì sự chậm trễ của cơ quan ban hành. Đối với luật, nghị quyết, pháp lệnh, nghị quyết, việc xử lý phải tuân theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, phản ánh tính đặc biệt trong thủ tục sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ các văn bản ở thang bậc cao nhất.

Những nhầm lẫn thường gặp trong thực tiễn

Một nhầm lẫn phổ biến là xem Điều 221 như cơ chế "Tòa án không áp dụng" văn bản dưới luật ngay lập tức khi thấy trái luật. Thực tế, Điều 221 thiết lập quy trình kiến nghị và xem xét, không phải là "quyền phủ quyết" trực tiếp của Thẩm phán hay Hội đồng xét xử đối với văn bản quy phạm pháp luật. Tòa án chỉ chuyển sang áp dụng văn bản có hiệu lực cao hơn khi cơ quan ban hành không trả lời trong thời hạn hoặc khi đã có căn cứ rõ ràng về sự trái Hiến pháp, luật, văn bản cấp trên. Nhầm lẫn khác là cho rằng Điều 221 áp dụng cho mọi loại việc, trong khi điều luật chỉ điều chỉnh quá trình giải quyết vụ án dân sự theo BLTTDS 2015; các lĩnh vực tố tụng khác có thiết chế riêng.

Lưu ý thực tiễn khi áp dụng Điều 221

Khi áp dụng Điều 221, Thẩm phán và Hội đồng xét xử cần xác định rõ: (i) văn bản đang áp dụng có phải văn bản quy phạm pháp luật hay chỉ là văn bản cá biệt, công văn hướng dẫn; (ii) nội dung nghi ngờ trái luật liên quan trực tiếp đến kết quả giải quyết vụ án; (iii) căn cứ pháp lý cụ thể về sự trái Hiến pháp, luật, nghị quyết, pháp lệnh hoặc văn bản cấp trên. Việc lập báo cáo, văn bản đề nghị phải thể hiện rõ lý do, căn cứ, tránh trình bày cảm tính. Về phía đương sự, cần hiểu rằng tạm ngừng và tạm đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp này nhằm đảm bảo quyền lợi lâu dài, tránh phán quyết dựa trên quy định dưới luật thiếu hợp hiến, hợp pháp; không phải là sự trì hoãn vô căn cứ của Tòa án.

Điều 221 BLTTDS 2015 áp dụng trong những trường hợp nào khi giải quyết vụ án dân sự?
Điều 221 áp dụng khi Tòa án đang giải quyết vụ án dân sự và phát hiện văn bản quy phạm pháp luật liên quan có dấu hiệu trái Hiến pháp, luật hoặc văn bản cấp trên.
Thẩm phán có được tự ý không áp dụng văn bản dưới luật mà họ cho là trái luật không?
Thẩm phán không tự ý bỏ qua văn bản, mà phải báo cáo, đề nghị Chánh án và thực hiện theo quy trình kiến nghị được quy định tại Điều 221 BLTTDS 2015.
Khi vụ án đang xét xử, Hội đồng xét xử xử lý thế nào nếu phát hiện văn bản trái luật?
Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa theo điểm e khoản 1 Điều 259 BLTTDS 2015 và báo cáo Chánh án Tòa án để kiến nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét văn bản.
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có thời hạn bao lâu để quyết định về kiến nghị của Tòa án cấp dưới?
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phải xem xét và trả lời trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của Chánh án Tòa án cấp dưới.
Nếu cơ quan ban hành văn bản dưới luật không trả lời kiến nghị trong 01 tháng thì Tòa án làm gì?
Nếu quá 01 tháng không có trả lời, Tòa án được áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn để giải quyết vụ án, bảo đảm thống nhất và hợp pháp việc xét xử.
Mục lục văn bản