Điều 215 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: Hậu quả của việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

Bình luận Điều 215 BLTTDS 2015 về hậu quả tạm đình chỉ vụ án dân sự, quyền kháng cáo, trách nhiệm Thẩm phán và xử lý án phí.

Điều 215. Hậu quả của việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

1. Tòa án không xóa tên vụ án dân sự bị tạm đình chỉ giải quyết trong sổ thụ lý mà chỉ ghi chú vào sổ thụ lý số và ngày, tháng, năm của quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đó.

2. Tiền tạm ứng án phí, lệ phí mà đương sự đã nộp được gửi tại kho bạc nhà nước và được xử lý khi Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án dân sự.

3. Trường hợp tạm đình chỉ theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 214 của Bộ luật này thì trước khi tạm đình chỉ, Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án phải có văn bản đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên theo quy định tại Điều 221 của Bộ luật này.

Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được văn bản kiến nghị của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền phải có văn bản trả lời. Hết thời hạn này mà cơ quan có thẩm quyền không có văn bản trả lời thì Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

4. Trong thời gian tạm đình chỉ giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án vẫn phải có trách nhiệm về việc giải quyết vụ án.

Sau khi có quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại khoản 1 Điều 214 của Bộ luật này, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm khắc phục trong thời gian ngắn nhất những lý do dẫn tới vụ án bị tạm đình chỉ để kịp thời đưa vụ án ra giải quyết.

5. Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Định hướng chung của Điều 215

Điều 215 không điều chỉnh căn cứ tạm đình chỉ mà tập trung vào tình trạng pháp lý của vụ án sau khi đã có quyết định tạm đình chỉ theo Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Trọng tâm là: vụ án vẫn đang được thụ lý, nghĩa vụ tài chính (án phí, lệ phí) được bảo lưu, trách nhiệm giải quyết vẫn gắn với Thẩm phán và quyết định tạm đình chỉ là đối tượng kiểm soát bằng kháng cáo, kháng nghị. Qua đó bảo đảm tạm đình chỉ chỉ là tạm dừng tố tụng, không phải chấm dứt vụ án.

Vụ án vẫn thuộc diện thụ lý, không bị “xóa sổ”

Quy định không xóa tên vụ án khỏi sổ thụ lý mà chỉ ghi chú quyết định tạm đình chỉ thể hiện quan điểm: vụ án vẫn đang tồn tại trong hệ thống tố tụng và sẽ được tiếp tục giải quyết khi lý do tạm đình chỉ chấm dứt. Người áp dụng pháp luật cần tránh cách hiểu nhầm rằng tạm đình chỉ đồng nghĩa đình chỉ giải quyết vụ án hoặc bị đơn, nguyên đơn “thoát” khỏi vụ kiện. Trong quản lý nội bộ Tòa án, ghi chú này cũng tạo cơ sở kiểm soát thời gian tạm đình chỉ và trách nhiệm theo dõi của Thẩm phán.

Xử lý tiền tạm ứng án phí, lệ phí

Điều 215 khẳng định tiền tạm ứng án phí, lệ phí đã nộp không được hoàn trả khi tạm đình chỉ mà được gửi tại kho bạc nhà nước và chỉ được xử lý khi Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án. Cốt lõi cần nắm là: nghĩa vụ nộp tạm ứng án phí, lệ phí gắn với việc thụ lý và vẫn còn hiệu lực trong toàn bộ thời gian tạm đình chỉ, không bị triệt tiêu vì lý do tố tụng. Nhầm lẫn thường gặp là đương sự yêu cầu hoàn lại tạm ứng án phí khi vụ án bị tạm đình chỉ; Điều 215 cho thấy yêu cầu này không có cơ sở, trừ trường hợp vụ án sau đó bị đình chỉ theo quy định riêng về án phí.

Cơ chế kiến nghị khi văn bản dưới luật trái Hiến pháp, luật

Khoản 3 Điều 215 liên kết chặt chẽ với điểm e khoản 1 Điều 214 và Điều 221 về việc tạm đình chỉ khi có văn bản quy phạm pháp luật bị nghi trái Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên. Trước khi tạm đình chỉ, Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án bắt buộc phải có văn bản đề nghị Chánh án TAND tối cao kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ văn bản đó. Đây là cơ chế kiểm soát tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản dưới luật thông qua hoạt động tố tụng, bảo đảm phán quyết của Tòa án không dựa trên một quy định trái cấp trên.

Quy định thời hạn 01 tháng để cơ quan có thẩm quyền trả lời và hệ quả “im lặng” – Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung nếu hết thời hạn mà không có văn bản trả lời – nhằm tránh việc vụ án bị treo vô thời hạn. Điểm cần lưu ý là: Tòa án không bị buộc phải chờ đợi vô hạn; khi cơ quan có thẩm quyền không phản hồi, Thẩm phán phải chủ động tiếp tục giải quyết, lựa chọn căn cứ pháp lý phù hợp với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, không máy móc áp dụng văn bản bị nghi trái luật.

Trách nhiệm liên tục của Thẩm phán khi vụ án bị tạm đình chỉ

Khoản 4 nhấn mạnh: trong thời gian tạm đình chỉ, Thẩm phán được phân công vẫn phải chịu trách nhiệm về việc giải quyết vụ án. Tạm đình chỉ không phải là cơ sở để Thẩm phán “giải tỏa” nghĩa vụ quản lý hồ sơ hay thoát khỏi trách nhiệm về tiến độ. Đây là nội dung quan trọng trong quản lý nội bộ, đồng thời bảo vệ quyền lợi của đương sự trước việc vụ án bị kéo dài không cần thiết.

Theo quy định tiếp theo, sau khi có quyết định tạm đình chỉ theo khoản 1 Điều 214, Thẩm phán có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm khắc phục lý do dẫn tới tạm đình chỉ trong thời gian ngắn nhất. Người áp dụng pháp luật cần nắm rằng: trách nhiệm này mang tính chủ động, không chỉ là “chờ” cơ quan khác; Thẩm phán phải có các động thái cụ thể (nhắc nhở, yêu cầu cung cấp tài liệu, đôn đốc giải quyết việc liên quan…) để sớm đưa vụ án trở lại trạng thái được giải quyết.

Quyền kháng cáo, kháng nghị quyết định tạm đình chỉ

Khoản 5 khẳng định quyết định tạm đình chỉ là đối tượng có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Về bản chất, tạm đình chỉ tác động trực tiếp đến quyền được xét xử trong một thời hạn hợp lý của đương sự, nên phải được đặt dưới cơ chế kiểm soát của Tòa án cấp trên. Trên thực tiễn, đương sự thường bỏ qua quyền này, dẫn đến việc chấp nhận trạng thái “treo” vụ án không cần thiết; do đó, khi bị tạm đình chỉ, cần đánh giá lại xem căn cứ tại Điều 214 có thỏa mãn hay không để quyết định kháng cáo.

Một số nhầm lẫn thường gặp và lưu ý áp dụng

Thứ nhất, nhầm lẫn giữa tạm đình chỉđình chỉ giải quyết vụ án: tạm đình chỉ theo Điều 214, Điều 215 chỉ làm gián đoạn tố tụng, không chấm dứt việc giải quyết; trong khi đình chỉ dẫn đến việc Tòa án không tiếp tục xét xử và vụ án chỉ còn một số hệ quả nhất định về án phí, quyền khởi kiện lại. Khi tư vấn cho đương sự, cần giải thích rõ sự khác biệt này để tránh việc họ tưởng rằng đã kết thúc tranh chấp.

Thứ hai, nhầm lẫn về thời hạn tạm đình chỉ: Bộ luật Tố tụng dân sự không đặt một “thời hạn tuyệt đối” cho mọi trường hợp tạm đình chỉ, mà gắn trách nhiệm theo dõi, đôn đốc của Thẩm phán và trong riêng trường hợp văn bản trái Hiến pháp, luật thì quy định mốc 01 tháng cho cơ quan có thẩm quyền trả lời. Do đó, việc vụ án bị tạm đình chỉ lâu không phải là đương nhiên hợp pháp; nếu lý do không còn nhưng Tòa án vẫn không tiếp tục giải quyết, đương sự có thể khiếu nại, kiến nghị hoặc sử dụng quyền kháng cáo đối với quyết định tạm đình chỉ.

Thứ ba, lưu ý thực tiễn: trong các trường hợp liên quan đến kiến nghị về văn bản trái Hiến pháp, luật, Thẩm phán và Chánh án cần lập hồ sơ kiến nghị đầy đủ, viện dẫn rõ điểm, khoản, điều của Hiến pháp, luật, nghị quyết liên quan để tăng khả năng được cơ quan có thẩm quyền xem xét, đồng thời bảo vệ tính vững chắc của phán quyết nếu sau này vụ án tiếp tục giải quyết. Đương sự nên được thông báo rõ lý do tạm đình chỉ và cơ chế kiến nghị để hiểu quyền và nghĩa vụ của mình trong giai đoạn chờ.

Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có làm vụ án bị xóa khỏi sổ thụ lý không?
Không. Vụ án vẫn được ghi trong sổ thụ lý, chỉ ghi chú quyết định tạm đình chỉ; vụ án tiếp tục tồn tại và sẽ được giải quyết khi lý do tạm đình chỉ chấm dứt.
Khi vụ án bị tạm đình chỉ, đương sự có được hoàn trả tiền tạm ứng án phí không?
Không. Tiền tạm ứng án phí, lệ phí đã nộp được gửi tại kho bạc nhà nước và chỉ được xử lý khi Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án hoặc đình chỉ theo quy định riêng.
Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có thể bị kháng cáo không?
Có. Quyết định tạm đình chỉ là loại quyết định tố tụng có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm nếu đương sự cho rằng việc tạm đình chỉ không có căn cứ pháp luật.
Trong thời gian tạm đình chỉ, Thẩm phán còn trách nhiệm với vụ án không?
Có. Thẩm phán vẫn chịu trách nhiệm theo dõi, đôn đốc các cơ quan, tổ chức, cá nhân để khắc phục lý do tạm đình chỉ và sớm đưa vụ án ra giải quyết lại.
Nếu cơ quan có thẩm quyền không trả lời kiến nghị về văn bản trái Hiến pháp trong 01 tháng thì sao?
Nếu hết thời hạn 01 tháng mà không có văn bản trả lời, Tòa án phải tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung, bảo đảm quyền được xét xử trong thời hạn hợp lý.
Mục lục văn bản