Điều 169 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: Quy định cụ thể về các chi phí tố tụng

Bình luận Điều 169 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 về quy định cụ thể các chi phí tố tụng và thẩm quyền của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Điều 169. Quy định cụ thể về các chi phí tố tụng

Căn cứ vào quy định của Bộ luật này, Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định cụ thể về chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí giám định, định giá tài sản; chi phí cho người làm chứng, người phiên dịch; chi phí tố tụng khác do luật khác quy định và việc miễn, giảm chi phí tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.

Mục đích và ý nghĩa của Điều 169

Điều 169 xác định rõ cơ quan có thẩm quyền quy định chi tiết về các chi phí tố tụng, bảo đảm sự thống nhất trên phạm vi toàn quốc. Thay vì liệt kê chi tiết trong Bộ luật, nhà làm luật lựa chọn cơ chế giao Ủy ban thường vụ Quốc hội cụ thể hóa bằng văn bản dưới luật, tạo dư địa linh hoạt để điều chỉnh mức thu, phương thức thu và miễn, giảm phù hợp với thực tiễn kinh tế – xã hội. Quy định này đồng thời giúp người tham gia tố tụng có căn cứ rõ ràng khi xác định nghĩa vụ nộp chi phí và quyền được miễn, giảm.

Phạm vi các loại chi phí tố tụng được điều chỉnh

Điều 169 không giới hạn ở án phí, lệ phí mà tập trung vào các chi phí tố tụng đặc thù phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án. Các nhóm chi phí được nêu gồm: chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí giám định, định giá tài sản, chi phí cho người làm chứng, người phiên dịch và các chi phí tố tụng khác do luật chuyên ngành quy định. Cách liệt kê mở này cho phép bao quát những khoản chi mới phát sinh theo các đạo luật chuyên ngành mà không cần sửa đổi Bộ luật Tố tụng dân sự.

Thẩm quyền quy định chi tiết và hệ quả áp dụng

Điều 169 khẳng định Ủy ban thường vụ Quốc hội là chủ thể duy nhất có thẩm quyền quy định cụ thể về nội dung, mức, cách tính, trình tự thực hiện và miễn, giảm các loại chi phí tố tụng thuộc phạm vi điều luật. Khi áp dụng thực tế, tòa án, đương sự và các chủ thể liên quan phải căn cứ song song Bộ luật Tố tụng dân sự và nghị quyết/ văn bản hướng dẫn của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Mọi hướng dẫn về chi phí tố tụng của cơ quan khác chỉ có giá trị trong phạm vi được Ủy ban thường vụ Quốc hội cho phép, không được trái hoặc vượt quá khung do cơ quan này ấn định.

Những lưu ý khi áp dụng trong thực tiễn

Thứ nhất, Điều 169 chỉ là căn cứ khung, không trực tiếp xác định mức tiền cụ thể; người áp dụng phải tìm đến các nghị quyết hướng dẫn chi tiết để tính toán chi phí. Thứ hai, cần phân biệt rõ chi phí tố tụng theo Điều 169 với án phí, lệ phí tòa án, tránh nhầm lẫn khi đề nghị miễn, giảm hoặc khi phân bổ nghĩa vụ chịu chi phí trong bản án, quyết định. Thứ ba, việc miễn, giảm chi phí tố tụng phải dựa trên điều kiện, thủ tục được Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định; tòa án không được tự sáng tạo thêm trường hợp không có căn cứ pháp lý. Thứ tư, đối với các chi phí tố tụng “do luật khác quy định”, phải kiểm tra đầy đủ quy định của luật chuyên ngành (ví dụ: luật về giám định, dịch thuật, ủy thác tư pháp…) để bảo đảm tính hợp lệ của khoản chi.

Nhầm lẫn thường gặp và cách tránh

Một nhầm lẫn phổ biến là coi mọi chi phí liên quan đến vụ án đều thuộc phạm vi Điều 169, dẫn đến yêu cầu tòa án giải quyết miễn, giảm cả những khoản không phải chi phí tố tụng (chẳng hạn chi phí dịch vụ luật sư, chi phí đi lại riêng của đương sự). Những khoản này không thuộc nhóm chi phí được Điều 169 bao quát. Nhầm lẫn thứ hai là áp dụng văn bản hướng dẫn đã hết hiệu lực hoặc không đúng loại vụ việc, làm phát sinh tranh chấp về nghĩa vụ thanh toán chi phí. Để tránh, người hành nghề cần luôn kiểm tra hiệu lực văn bản của Ủy ban thường vụ Quốc hội và bám sát đúng loại chi phí, loại vụ việc mà văn bản đó điều chỉnh.

Điều 169 có quy định trực tiếp mức tiền các loại chi phí tố tụng không?
Không. Điều 169 chỉ xác định thẩm quyền của Ủy ban thường vụ Quốc hội; mức chi cụ thể được quy định trong các nghị quyết hoặc văn bản hướng dẫn chi tiết.
Chi phí luật sư có phải là chi phí tố tụng theo Điều 169 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 không?
Chi phí luật sư không thuộc nhóm chi phí tố tụng mà Điều 169 giao Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định; đây là khoản chi do đương sự và luật sư thỏa thuận.
Khi xin miễn, giảm chi phí giám định, tôi căn cứ vào đâu ngoài Điều 169?
Ngoài Điều 169, cần căn cứ nghị quyết hoặc văn bản của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định cụ thể điều kiện, thủ tục miễn, giảm chi phí giám định áp dụng cho từng loại vụ việc.
Tòa án có được tự quy định cách tính chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ không?
Không. Tòa án phải áp dụng đúng quy định chi tiết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, không được tự đặt ra phương thức tính chi phí trái hoặc ngoài khung đã ban hành.
Chi phí cho người phiên dịch trong vụ án dân sự được xác định theo văn bản nào?
Chi phí phiên dịch được xác định theo văn bản quy định chi tiết của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành trên cơ sở Điều 169, tòa án và đương sự phải căn cứ văn bản này.
Mục lục văn bản