Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: Nghĩa vụ chịu chi phí định giá tài sản, thẩm định giá

Bình luận Điều 165 BLTTDS 2015 về nghĩa vụ chịu chi phí định giá, thẩm định giá tài sản trong tố tụng dân sự, gắn với từng tình huống cụ thể.

Điều 165. Nghĩa vụ chịu chi phí định giá tài sản, thẩm định giá

Trường hợp các bên đương sự không có thỏa thuận khác hoặc pháp luật không có quy định khác thì nghĩa vụ chịu chi phí định giá tài sản, thẩm định giá được xác định như sau:

1. Đương sự phải chịu chi phí định giá tài sản nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận.

2. Trường hợp yêu cầu Tòa án chia tài sản chung thì mỗi người được chia tài sản phải chịu phần chi phí định giá tài sản tương ứng với tỷ lệ giá trị phần tài sản mà họ được chia.

3. Trường hợp Tòa án ra quyết định định giá tài sản quy định tại điểm c khoản 3 Điều 104 của Bộ luật này thì nghĩa vụ chịu chi phí định giá tài sản được xác định như sau:

a) Đương sự phải chịu chi phí định giá tài sản quy định tại khoản 1 Điều này nếu kết quả định giá chứng minh quyết định định giá tài sản của Tòa án là có căn cứ;

b) Tòa án trả chi phí định giá tài sản nếu kết quả định giá tài sản chứng minh quyết định định giá tài sản của Tòa án là không có căn cứ.

4. Trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217, điểm b khoản 1 Điều 299 của Bộ luật này và Hội đồng định giá đã tiến hành định giá thì nguyên đơn phải chịu chi phí định giá tài sản.

Trường hợp đình chỉ giải quyết việc xét xử phúc thẩm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 289, khoản 3 Điều 296 của Bộ luật này và Hội đồng định giá đã tiến hành định giá thì người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải chịu chi phí định giá tài sản.

5. Các trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án khác theo quy định của Bộ luật này và Hội đồng định giá đã tiến hành định giá thì người yêu cầu định giá tài sản phải chịu chi phí định giá tài sản.

6. Nghĩa vụ chịu chi phí thẩm định giá tài sản của đương sự được thực hiện như nghĩa vụ chịu chi phí định giá tài sản quy định tại các khoản 1, 2, 4 và 5 Điều này.

Ý nghĩa và mục đích của quy định về chi phí định giá

Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thiết lập cơ chế phân bổ chi phí định giá, thẩm định giá gắn với trách nhiệm của đương sự đối với yêu cầu tố tụng của mình. Quy định theo hướng ai yêu cầu, ai hưởng lợi hoặc ai có lỗi trong việc làm phát sinh chi phí thì chịu chi phí tương ứng. Qua đó hạn chế lạm dụng yêu cầu định giá, giảm tình trạng kéo dài tố tụng và bảo đảm công bằng về chi phí giữa các bên.

Nguyên tắc chung: gắn chi phí với kết quả yêu cầu

Trọng tâm của Điều 165 là nguyên tắc: khi không có thỏa thuận khác hoặc luật chuyên ngành không quy định khác, đương sự có yêu cầu định giá mà yêu cầu không được Tòa án chấp nhận thì phải chịu chi phí định giá (khoản 1). Ngược lại, nếu yêu cầu được chấp nhận, nghĩa vụ chịu chi phí sẽ được xem xét theo các quy định tương ứng ở khoản 2, 3, 4, 5 và khoản 6. Đây là điểm cần nắm vì quyết định yêu cầu định giá không chỉ ảnh hưởng đến chứng cứ, mà còn đến nghĩa vụ tài chính của đương sự.

Chia tài sản chung và phân bổ chi phí theo tỷ lệ giá trị

Trong trường hợp yêu cầu Tòa án chia tài sản chung, mỗi người được chia tài sản phải chịu phần chi phí định giá tương ứng với tỷ lệ giá trị phần tài sản mà họ được chia (khoản 2). Ý nghĩa thực tiễn là chi phí được phân bổ theo nguyên tắc công bằng, người hưởng phần giá trị lớn hơn chịu chi phí lớn hơn. Quy định này tránh hiểu nhầm rằng chỉ người yêu cầu chia tài sản mới phải chịu toàn bộ chi phí định giá.

Chi phí khi Tòa án tự ra quyết định định giá

Trách nhiệm của đương sự khi quyết định định giá của Tòa án có căn cứ

Điểm a khoản 3 Điều 165 quy định, nếu Tòa án ra quyết định định giá tài sản theo điểm c khoản 3 Điều 104 BLTTDS 2015 và kết quả định giá chứng minh quyết định đó là có căn cứ, thì đương sự phải chịu chi phí theo cơ chế khoản 1 Điều 165. Nghĩa là, trong trường hợp Tòa án chủ động quyết định định giá để làm rõ giá trị tài sản, nhưng kết quả lại củng cố chính lập luận, quan điểm tố tụng đã có, đương sự liên quan vẫn chịu chi phí như khi tự yêu cầu.

Trách nhiệm của Tòa án khi quyết định định giá không có căn cứ

Điểm b khoản 3 Điều 165 quy định, nếu kết quả định giá chứng minh quyết định định giá của Tòa án là không có căn cứ, thì Tòa án phải trả chi phí định giá. Cơ chế này nhằm bảo đảm sự thận trọng trong việc ban hành quyết định định giá của Tòa án, tránh việc đẩy toàn bộ chi phí cho đương sự trong khi bản thân quyết định định giá không có cơ sở phù hợp.

Chi phí định giá trong trường hợp đình chỉ giải quyết vụ việc

Khoản 4 Điều 165 xác định nghĩa vụ chịu chi phí định giá trong trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án ở một số căn cứ nhất định và Hội đồng định giá đã tiến hành định giá. Theo đó, nguyên đơn phải chịu chi phí định giá nếu vụ án bị đình chỉ theo điểm c khoản 1 Điều 217 hoặc điểm b khoản 1 Điều 299 BLTTDS 2015, sau khi đã tiến hành định giá. Tương tự, nếu đình chỉ việc xét xử phúc thẩm theo điểm b khoản 1 Điều 289 hoặc khoản 3 Điều 296 và có hoạt động định giá, người kháng cáo phải chịu chi phí.

Khoản 5 điều chỉnh các trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án khác mà Bộ luật quy định. Khi đã có hoạt động định giá của Hội đồng định giá, người yêu cầu định giá phải chịu chi phí. Đây là điểm thường bị bỏ qua trong thực tiễn, dẫn đến nhầm lẫn rằng khi vụ án bị đình chỉ thì chi phí định giá mặc nhiên do Tòa án hoặc ngân sách Nhà nước gánh chịu. Thực tế, Điều 165 vẫn gắn chi phí định giá với chủ thể yêu cầu và diễn biến tố tụng.

Thẩm định giá và mối tương đồng với định giá tài sản

Khoản 6 Điều 165 quy định nghĩa vụ chịu chi phí thẩm định giá được áp dụng tương tự như nghĩa vụ chịu chi phí định giá theo các khoản 1, 2, 4 và 5. Điểm quan trọng là về mặt phân bổ chi phí, pháp luật không phân biệt bản chất giữa hoạt động định giá do Hội đồng định giá và hoạt động thẩm định giá tài sản do tổ chức thẩm định giá thực hiện. Do đó, khi lựa chọn phương thức xác định giá trị tài sản, đương sự cần tính đến cấu trúc chi phí tương tự nhau về mặt nghĩa vụ.

Những cách hiểu sai thường gặp và lưu ý áp dụng

Một nhầm lẫn phổ biến là cho rằng bên thua kiện luôn phải chịu toàn bộ chi phí định giá, bất kể ai là người yêu cầu và ở giai đoạn tố tụng nào. Điều 165 không thiết kế theo hướng "bên thua kiện chịu chi phí" một cách tuyệt đối, mà phân bổ theo từng trường hợp cụ thể: yêu cầu không được chấp nhận, yêu cầu chia tài sản, Tòa án tự quyết định định giá, đình chỉ giải quyết vụ án, đình chỉ phúc thẩm. Do đó, khi tư vấn hoặc soạn đơn, cần xác định rõ tình huống pháp lý để dự liệu nghĩa vụ chi phí.

Một nhầm lẫn khác là suy luận rằng khi Tòa án ra quyết định định giá thì chi phí luôn do Tòa án hoặc ngân sách chịu. Thực tế, chỉ khi kết quả định giá chứng minh quyết định định giá của Tòa án là không có căn cứ thì Tòa án mới phải trả chi phí; nếu quyết định có căn cứ, chi phí vẫn gắn với đương sự. Trong thực tiễn, việc giải thích rõ cơ chế này với khách hàng là cần thiết để tránh tranh chấp về án phí, lệ phí và chi phí tố tụng bổ sung.

Khi áp dụng Điều 165, cần lưu ý thêm một điều kiện "kích hoạt" quan trọng là: chỉ trong trường hợp các bên không có thỏa thuận khác và pháp luật không có quy định khác thì cơ chế phân bổ chi phí theo Điều 165 mới được áp dụng trực tiếp. Nếu có thỏa thuận hợp pháp về phân chia chi phí định giá hoặc luật chuyên ngành quy định riêng (ví dụ pháp luật về thi hành án, pháp luật về tố tụng khác), thì thỏa thuận hoặc quy định đó được ưu tiên áp dụng trước.

Nếu tôi yêu cầu định giá tài sản nhưng Tòa án bác yêu cầu thì tôi có phải chịu chi phí không?
Theo Điều 165 BLTTDS 2015, khi yêu cầu định giá không được Tòa án chấp nhận, đương sự có yêu cầu phải chịu chi phí định giá.
Trong vụ án chia tài sản chung, ai phải chịu chi phí định giá tài sản?
Mỗi người được chia tài sản phải chịu phần chi phí định giá tương ứng tỷ lệ giá trị phần tài sản mà mình được chia, không chỉ riêng người nộp đơn yêu cầu.
Khi Tòa án tự ra quyết định định giá tài sản thì chi phí thuộc về ai?
Nếu kết quả định giá chứng minh quyết định của Tòa án có căn cứ, đương sự chịu chi phí; nếu quyết định không có căn cứ, Tòa án phải trả chi phí.
Trường hợp vụ án bị đình chỉ sau khi đã định giá tài sản thì chi phí định giá xử lý thế nào?
Tùy căn cứ đình chỉ: thường nguyên đơn hoặc người kháng cáo, hoặc người yêu cầu định giá phải chịu chi phí theo các khoản 4, 5 Điều 165.
Chi phí thẩm định giá tài sản có khác gì chi phí định giá về nghĩa vụ chịu chi phí?
Khoản 6 Điều 165 quy định nghĩa vụ chịu chi phí thẩm định giá thực hiện như nghĩa vụ chịu chi phí định giá tại các khoản 1, 2, 4 và 5.
Mục lục văn bản